vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 11/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất Ma túy NVD - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN E
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày: 11 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tuyển

Ông Ksơr Af Lai

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện E.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên toà: Ông Hồ Quang Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 11/01/2022 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện E mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn D - sinh năm 1979, tại tỉnh Cao Bằng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã W, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Nùng; con ông: Nông Văn Kh (đã chết) và bà Hoàng Thị X; có vợ là Hứa Thị H - sinh năm 1981; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự; không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/9/2021, đến ngày 17/9/2021 chuyển sang tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện E. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Hứa Thị H, sinh năm 1981; trú tại: Thôn A, xã W, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 08 tháng 9 năm 2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E phối hợp với Công an xã W bắt quả tang Nông Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên phải của Nông Văn D 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất rắn màu trắng. D khai nhận, chất rắn màu trắng thu giữ nói trên là ma túy, D tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra Nông Văn D khai nhận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08 tháng 9 năm 2021, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 47B2 - 767.24 đi từ nhà D tại thôn A, xã W, huyện E đến khu vực S thuộc thôn B, xã W, huyện E để tìm mua ma túy. Tại đây, D gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch). Qua nói chuyện, D biết người này có bán ma túy nên D hỏi mua 1.500.000 đồng thì người này đưa ma túy cho D.

Sau khi mua được ma túy, D điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47B2 - 767.24 và mang theo số ma túy vừa mua được đi đến thôn B, xã W, huyện E. Khi D đang đi trên đoạn đường liên thôn thuộc thôn B, xã W, huyện E thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E phát hiện, bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 948/GĐMT-PC09 ngày 17/9/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc màu vàng, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,8757 gam, loại Heroine.

Quá trình điều tra, xác định chiếc mô tô biển kiểm soát 47B2 - 767.24 là của bà Hứa Thị H (vợ của D). Việc D sử dụng chiếc xe mô tô trên để mua ma túy bà Hơn không biết.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện E truy tố đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã đưa ra các chứng cứ buộc tội, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS, ngày 09/12/2021, đồng thời đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nông Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 08 tháng 9 năm 2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 0,8463 gam Heroine còn lại sau giám định; chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E giao trả chiêc xe mô tô Exciter, biển kiểm soát cho 47B2- 767.24 cho bà Hứa Thị H là chủ sở hữu hợp pháp.

Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối lỗi về hành vì của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng, làm người sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Do nghiện ma túy nên vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 08/9/2021 tại thôn 8A, xã W, huyện E Nông Văn D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, khối lượng 0,8757 gam Heroine thì bị Công an huyện E kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khi thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i , bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thứ c đượ c hà nh vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm phá p luậ t. Thế nhưng, do ý thứ c coi thườ ng phá p luậ t và để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đãcố ý thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i. Do đó, Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ nE truy tố bị cáoNông Văn D về tội “Tàng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ , đú ng ngườ i, đú ng tộ i, đú ng phá p luậ t nên cầ n chấ p nhậ n.

Tại điểm c, khoản 1 Điề u 249 Bộ luật hình sự quy đị nh như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…..…c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiể m cho xã hộ i , đây cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn. Vì vậy, để kịp thời trừng trị kẻ phạm tội và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạ m tộ i bị cá o đã thà nh khẩn khai báo , ăn năn hối cải; bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là người dân tộc thiểu số trình độ học vấn thấp đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần cân nhắc, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhi ệm hình sự để thể hiệ n chí nh sá ch khoan hồ ng của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 47B2 - 767.24 của bà Hứa Thị H. Bị cáo sử dụng chiếc xe để làm phương tiện mua ma túy bà Hơn không biết nên không có căn cứ xử lý.

. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 0,8463 gam Heroine còn lại sau giám định. Cần chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E giao trả chiêc xe mô tô Exciter, biển kiểm soát cho 47B2- 767.24 cho bà Hứa Thị H là chủ sở hữu hợp pháp.

. Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾ T ĐỊ NH:

1. Tuyên bố : Bị cáo Nông Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nông Văn D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 08 tháng 9 năm 2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,8463 gam Heroine còn lại sau giám định. (Đặc điểm vật chứng như trong tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ).

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nông Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ