vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 07/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T và bị cáo Nguyễn Hiếu C phạm tội “Đánh bạc”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh, số Imei1: 352353114872069, Imei 2: 352354114872067, gắn sim số 0989654134 và số tiền 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - Nguyễn Hiếu C - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T và bị cáo Nguyễn Hiếu C phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÔN ĐẢO
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày: 07-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tống Thế Tuyên

Bà Đoàn Thị Diệu Hiền

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 2 năm 2022 và Thông báo số 06/2022/TB-TA về việc thay đổi thời gian xét xử ngày 21 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn T (tên gọi khác: Khờ), sinh năm: 1982 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: Ấp Nhà Lầu, xã Ninh Thạnh Lợi A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu; Chổ ở: Khu dân cư số 5, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Đi biển; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Dũng (đã chết) và bà Đặng Thị Quá (đã chết); Vợ: Ngô Thị Chon (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2010; Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 05 anh chị em; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 23-12-2020 bị Công an huyện Côn Đảo xử phạt hành chính 2.000.000đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29-9-2021 đến nay, “Có mặt”.

2. Nguyễn Hiếu C, sinh năm: 1986 tại Long An; Hộ khẩu thường trú: Ấp Xuân Hòa 2, phường Thanh Vĩnh Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Long An; Chổ ở: Khu dân cư số 8, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Xuân và bà Huỳnh Kim Chi; Vợ: Phạm Thúy Kiều và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình 03 chị em; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 23-12-2020 bị Công an huyện Côn Đảo xử phạt hành chính 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29-9-2021 đến nay, “Có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm: 1976 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người làm chứng:

1. Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu dân cư số 2, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1971 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu dân cư số 8, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

3. Bà Trần Thị Thúy H, sinh năm: 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 15 phút ngày 07-9-2021, Trần Văn T, Trần Thị Thúy H, Nguyễn Văn T, Phạm Văn T cùng đến quán nước nhà bà Trần Thị Thu H tại Khu 6, huyện Côn Đảo để uống cà phê. T sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51, màu xanh của mình tải ứng dụng trò chơi bầu cua để làm cái đánh bạc lắc bầu cua cùng H, T, T. Khoảng 10 phút sau Nguyễn Hiếu C đến và cùng tham gia chơi đánh bạc.

Cách thức đánh bạc và mức độ thắng thua như sau: T sử dụng điện thoại của mình mở ứng dụng trò chơi Bầu cua đã được cài đặt trong điện thoại để chủ động làm cái - đứng ra ăn thua với các con bạc khác. Trò chơi hiện ra 03 (ba) hột xúc xắc, mỗi hột có sáu mặt gồm các hình Bầu, Cua, Tôm, Cá, Gà, Nai, đặt trên chiếc đĩa, được úp bằng chiếc bát. Các con bạc sẽ đặt cược xung quanh điện thoại với các hình Bầu, Cua, Tôm, Cá, Gà, Nai tương ứng. Sau khi các con bạc đặt tiền xong, T bấm vào chiếc bát trên màn hình điện thoại thì máy tự động lắc. T bấm vào nút “Mở” trên màn hình điện thoại, nếu mặt trên cùng của 03 viên xúc sắc có hình nào thì con bạc đặt tiền tương ứng sẽ thắng bạc bằng giá trị đã đặt, nếu 01 hình xuất hiện 02 (hai) hoặc 03 (ba) lần thì con bạc sẽ được gấp hai hoặc ba lần số tiền đã đặt cược. (Ví dụ: Nếu người chơi đặt cược 10.000đồng vào hình con Gà, 03 hột xúc xắc xuất hiện ra 01 con Gà thì người cầm cái phải chung cho người đặt cược 10.000đồng; 02 con Gà người cầm cái chung cho người đặt cược số tiền là 20.000 đồng và người chơi được nhận lại số tiền mình đặt cược). Nếu không xuất hiện hình mà người chơi đặt cược thì người cầm cái thắng số tiền người chơi đặt cược. Mức độ cược tại sòng bạc từ 10.000đồng đến 20.000đồng. Các đối tượng tham gia đánh bạc đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Côn Đảo phát hiện, lập biên bản vụ việc và thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: Số tiền 630.000 đồng (sáu trăm ba mươi ngàn đồng) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh, số Imei1: 352353114872069, Imei 2: 352354114872067, gắn sim số 0989.654.134 của Trần Văn T sử dụng để đánh bạc (BL: 28 - 30).

* Các đối tượng khai nhận sử dụng số tiền đánh bạc cụ thể như sau:

- Trần Văn T mang theo số tiền 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi ngàn đồng). Đến khi bị bắt, T thắng 90.000đồng (Chín mươi ngàn đồng);

- Nguyễn Hiếu C mang theo số tiền 50.000đồng (Năm mươi ngàn đồng) để đánh bạc. Khi bị bắt, C thua 10.000đồng (Mười ngàn đồng);

- Nguyễn Văn T mang theo số tiền 80.000đồng (Tám mươi ngàn đồng) để đánh bạc. Khi bị bắt, T thua 10.000đồng (Mười ngàn đồng);

- Phạm Văn T mang theo số tiền 70.000đồng (Bảy mươi ngàn đồng) để đánh bạc. Khi bị bắt, T không thắng, không thua;

- Trần Thị Thúy H mang theo số tiền 70.000đồng (Bảy mươi ngàn đồng) để đánh bạc. Khi bị bắt, H thua hết số tiền 70.000đồng (Bảy mươi ngàn đồng).

Tổng số tiền các đối tượng Trần Văn T, Nguyễn Hiếu C, Phạm Văn T, Trần Văn T, Trần Thị Thúy H sử dụng để đánh bạc là 630.000đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng).

Quá trình điều tra xác định: Trần Văn T, Nguyễn Hiếu C đã bị Công an huyện Côn Đảo xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) về hành vi đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua trên điện thoại di động vào ngày 23-12-2020. Ngày 25-12-2020, T và C đã chấp hành xong hình phạt tiền nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý VPHC lại tiếp tục vi phạm nên phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Côn Đảo, Trần Văn T, Nguyễn Hiếu C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên (BL: 42 - 56; 68 - 76).

Vật chứng hiện đang tạm giữ gồm: Số tiền 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng) là tiền dùng để đánh bạc và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh, số Imei1: 352353114872069, Imei 2: 352354114872067, gắn sim số 0989654134 là công cụ, phương tiện Trần Văn T sử dụng để đánh bạc ngày 07-9-2021.

Đối với Phạm Văn T, Nguyễn Văn T, Trần Thị Thúy H có hành vi đánh bạc với số tiền 630.000 đồng nhưng T, T và H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, vì vậy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 09-9-2021, Công an huyện Côn Đảo đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T, T, H mỗi người 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), T và H đã nộp phạt, T chưa nộp phạt.

Đối với Trần Thị Thu H: Bà H không biết Trần Văn T, Nguyễn Hiếu C, Phạm Văn T, Nguyễn Văn T và Trần Thị Thúy H sử dụng quán nước nhà mình để đánh bạc thắng thua bằng tiền nên không có căn cứ để xử lý đối với bà Hà.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSCĐ ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố Trần Văn T và Nguyễn Hiếu C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đúng như trong bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo nhận thấy hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, đúng tội, không oan sai.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Hiếu C phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng).

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s, i Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu C từ 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng).

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh, số Imei1: 352353114872069, Imei 2: 352354114872067, gắn sim số 0989654134.

Các bị cáo nhất T với bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, các bị cáo đã ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Côn Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 23-12-2020, Trần Văn T và Nguyễn Hiếu C bị Công an huyện Côn Đảo xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC. Ngày 07-9-2021, tại quán nước nhà bà Trần Thị Thu H thuộc Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo, Trần Văn T, Nguyễn Hiếu C, Phạm Văn T, Nguyễn Văn T và Trần Thị Thúy H đã cùng nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Lắc Bầu Cua”. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 630.000đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng). Tuy, số tiền dùng để đánh bạc của T và C dưới 5.000.000đồng nhưng các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý hành chính. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất ít nghiêm T. Hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện mà trực tiếp là ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội. Hành vi đánh bạc trái phép là một tệ nạn xã hội gây hậu quả xấu cần tích cực phòng ngừa, ngăn chặn. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, đánh bạc là một tệ nạn và luôn bị xã hội lên án nhưng do coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện do hám lợi. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều là người thực hành, tham gia tích cực vào việc đánh bạc trái phép, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền dùng vào việc đánh bạc đã bị thu giữ tại chiếu bạc, nhưng bị cáo T là người cầm cái và số tiền đánh bạc cao hơn bị cáo C nên có vai trò lớn hơn bị cáo C.

- Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm T; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc không lớn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét thấy, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm T và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xử phạt hình phạt tiền đối với các bị cáo. Song, bị cáo T là người cầm cái có vai trò lớn hơn nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn so với bị cáo C là phù hợp và cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo để cho các bị cáo sửa chữa lỗi lầm và thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hình phạt chính là hình phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh, số Imei1: 352353114872069, Imei 2: 352354114872067, gắn sim số 0989654134, các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng), đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc trái phép nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Về các vấn đề khác:

- Đối với hành vi đánh bạc trái phép của Phạm Văn T, Nguyễn Văn T và Trần Thị Thúy H: T, T và H chưa có tiền án, tiền sự và số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000đồng nên chưa đủ định lượng để định tội “Đánh bạc”. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo xử phạt vi phạm hành chính đối với T, T và H là phù hợp quy định của pháp luật.

- Đối với Trần Thị Thu H: Bà H không biết Trần Văn T, Nguyễn Hiếu C, Phạm Văn T, Nguyễn Văn T và Trần Thị Thúy H sử dụng quán nước nhà mình để đánh bạc thắng thua bằng tiền nên không có căn cứ để xử lý đối với bà Hà là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T và bị cáo Nguyễn Hiếu C phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng).

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu C 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh, số Imei1: 352353114872069, Imei 2: 352354114872067, gắn sim số 0989654134 và số tiền 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng).

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18-01-2022 và Biên lai thu tiền số 0003257 ngày 18-01-2022).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo T và bị cáo C mỗi người phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ