vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn S 21 (Hai mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2022. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Sang - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS – ST
Ngày: 14/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và ông Đỗ Quốc Kỳ.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Duy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 06/2022/TLST - HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06 /2022/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

BÙI VĂN S, sinh ngày 17 tháng 4 năm 1996. Giới tính : Nam

Nơi cư trú: Xóm Bằng, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bùi Văn A, sinh năm 1975 và con bà Bùi Thị N, sinh năm 1975;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2022 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Bùi Văn A, sinh năm 1975; có mặt.

Nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09h00 ngày 01/8/2022, Bùi Văn S đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi điện thoại của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) S quen trước đó khoảng 3 tuần. Người đàn ông đó rủ S góp 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để cùng mua ma túy để sử dụng, S đồng ý. Sau đó, S mượn xe mô tô của bố S là ông Bùi Văn A để đi ra ngoài và được ông A đồng ý. S điều khiển xe mô tô đi từ nhà đến cửa hàng xăng dầu T (thuộc xóm Bảm, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình) và gửi chiếc xe này tại cửa hàng xăng dầu. Lúc này, người đàn ông gọi điện cho S trước đó đang chờ sẵn ở đó, S lên xe người đàn ông này, hai người cùng di chuyển từ C ra thành phố Hòa Bình. Khi đến ngã ba chân Cun thuộc địa phận thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, S đưa cho người đàn ông 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để góp tiền mua ma túy, người đàn ông này bảo S xuống xe, đứng đợi ở đó và điều khiển xe đi khoảng 10 - 12 phút thì quay lại đón S. Sau khi mua được ma túy hai người cùng di chuyển đến địa phận xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình thì dừng lại. S cùng người đàn ông đi vào một bụi tre gần đường và cùng sử dụng số ma túy vừa mua được. Sau khi sử dụng xong, S xin chỗ ma túy con thừa về để sử dụng dần, người đàn ông này đồng ý, S gói chỗ ma túy còn thừa lại rồi cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long đã bóc nắp rồi cho vào túi quần phía trước bên trái S đang mặc trên người. Người đàn ông chở S ra ngã ba chân Cun để S bắt xe buýt về nhà, còn người đàn ông điều khiển xe đi theo hướng thành phố Hòa Bình (S không rõ người đàn ông này đi đâu). S đi xe buýt từ nga ba chân Cun đến địa phận xóm Đỉnh C, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình thì tổ công tác Công A huyện C yêu cầu kiểm tra, quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của Bùi Văn S có một bao thuốc lá Thăng Long đã bóc nắp, bên trong có một gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, S khai là ma túy.

Ngày 01/8/2022, Cơ quan CSĐT Công A huyện C, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định trưng cầu số 20 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Hòa Bình, để tiến hành xác định khối lượng và giám định loại chất ma túy đối với tang vật thu giữ của Bùi Văn S.

Tại bản kết luận giám định số 213/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 05/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công A tỉnh Hòa Bình kết luận: "Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong một mặt có ghi 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng đã bóc nắp bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng có chứa chất bột dạng cục màu trắng” gửi giám định có khối lượng 0,22g (không phẩy hai mươi hai gam) là ma túy, loại Heroine"

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên. Cáo trạng số: 14/CT -VKSCP ngày 07/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn S mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,16gam mẫu chất ma túy, loại heroine;

- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động đen trắng đã qua sử dụng nhãn hiệu Nokia 105 mặt trước màu đen, mặt sau màu đen có chữ Nokia ở mặt trước và mặt sau.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công A huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn S đều khai nhận: Do nghiện chất ma túy nên vào hồi 09h00 ngày 01/8/2022 bị cáo mượn xe máy của bố đẻ là ông là ông Bùi Văn A, sinh năm 1975, trú tại xóm Bằng, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình, để đi ra ngoài và được ông A đồng ý, bị cáo điều khiển xe mô tô đi từ nhà đến cửa hàng xăng dầu T (thuộc xóm Bảm, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình) và gửi chiếc xe này tại cửa hàng xăng dầu, sau đó bị cáo lên xe người đàn ông đã hẹn, hai người cùng di chuyển ra thành phố Hòa Bình. Khi đến ngã ba chân Cun thuộc địa phận thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, bị cáo đưa cho người đàn ông 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để góp tiền mua ma túy, người đàn ông này bảo bị cáo xuống xe, đứng đợi và điều khiển xe đi khoảng 10 - 12 phút thì quay lại đón bị cáo. Sau khi mua được ma túy hai người cùng di chuyển đến địa phận xã Bình Thanh, huyện C, tỉnh Hòa Bình thì dừng lại. Bị cáo cùng người đàn ông đi vào một bụi tre gần đường và cùng sử dụng số ma túy vừa mua được. Sau khi sử dụng xong, bị cáo xin chỗ ma túy con thừa về sử dụng dần, người đàn ông này đồng ý, bị cáo gói chỗ ma túy còn thừa lại rồi cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long đã bóc nắp rồi cho vào túi quần phía trước bên trái bị cáo đang mặc trên người. Người đàn ông chở bị cáo ra ngã ba chân Cun để bắt xe buýt về nhà, còn người đàn ông điều khiển xe đi theo hướng thành phố Hòa Bình, bị cáo đi xe buýt từ nga ba chân Cun đến địa phận xóm Đỉnh Cun, xã Thu Phong, huyện C, tỉnh Hòa Bình thì tổ công tác Công A huyện C yêu cầu kiểm tra, quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của bị cáo có một bao thuốc lá Thăng Long đã bóc nắp, bên trong có một gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, bị cáo khai là ma túy.

Tại trụ sở công A xã Thu Phong Cơ quan cảnh sát điều tra Công A huyện C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, bị cáo Bùi Văn S khai nhận gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng trong túi quần phía trước bên trái của bị cáo là ma túy loại heroine, mục đích mua về để sử dụng.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông ngoại tham gia kháng chiến, có chứng nhận thương binh hạng 1/4; bản thân bị cáo Bùi Văn S từng tham gia nghĩa vụ quân sự, được khen thưởng “Chiến sỹ tiên tiến”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu SOKA mang BKS 28F6-8593 (Giấy đăng ký xe mang tên Quách Văn Hoa) cơ quan điều tra đã xác minh đây là xe của ông Bùi Văn A (bố của bị cáo S). Bản thân ông A không biết việc S mượn xe máy làm phương tiện đi mua “ma túy”, Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy này cho ông Bùi Văn A là đúng quy định của pháp luật. Nên HĐXX không xem xét.

Căn cứ điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS nhận thấy cần xử lý vật chứng trong vụ án đã thu giữ được như sau:

- Đối với 01(một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,16 gam mẫu ma túy loại heroine còn lại sau giám định. Xét đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong có ghi “01 điện thoại di động đen trắng đã qua sử dụng nhãn hiệu Nokia 105 mặt trước màu đen, mặt sau màu đen có chữ Nokia ở mặt trước và mặt sau”. Xét thấy đây là phương tiện phạm tội, vẫn còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

Các vấn đề khác:

- Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn A cho bị cáo mượn xe môtô để đi, nhưng bản thân ông A không biết là S mượn xe để đi mua ma túy, tại phiên tòa ông A không có đề nghị và yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

- Đối với trường hợp Người đàn ông rủ S cùng đi mua ma túy, qua quá trình điều tra, CQCSĐT đã điều tra và xác minh tuy nhiên không có đủ căn cứ để tiến hành khởi tố đối với đối tượng này. HĐXX đề nghị cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra xác minh và làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

2. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

3. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn S 21 (Hai mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2022.

4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ Bùi Văn S, sinh năm 1996 - có hành vi phạm tội về ma túy, sảy ra ngày 01/8/2022, tại xã Thu Phong, huyện C, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Hòa Bình, có chữ ký và tên của các thành phần tham gia. Bên trong có chứa 0,16 gam mẫu chất ma túy loại heroine còn lại sau giám định;

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động đen trắng đã qua sử dụng nhãn hiệu Nokia 105 mặt trước màu đen, mặt sau màu đen có chữ Nokia ở mặt trước và mặt sau;

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 02/BB- GNVC ngày 08 tháng 11 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công A huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện C).

5. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Bị cáo Bùi Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ