vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 23/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 28/10/2021). Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Lê Minh Trọng số tiền 10.000.000 đồng, sung vào ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh Trọng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày: 19-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Tâm và bà Võ Thị Điệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghi – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án huyện Cao Lãnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:

Lê Minh T (tên gọi khác: Long), sinh ngày 08/8/1991 tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Khóm MT, thị trấn MT, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Lê Văn T, sinh năm 1964 và bà Võ Thị Kim P, sinh năm 1964; Vợ tên Ngô Trương Phi Y sinh năm 1992 (đã ly hôn); Con tên Lê Thị Tường V, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 28/10/2021; Tạm giam ngày 03/11/2021; Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cao Lãnh có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

1. Võ Minh T, sinh năm 1988, địa chỉ: Khóm MT, thị trấn MT, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

2. Trần Minh Q, sinh năm 1979, địa chỉ: Khóm MPCL, thị trấn MT, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

- Người làm chứng:

Ông Lê Văn T, sinh năm 1964 (có mặt) và bà Võ Thị Kim P, sinh năm 1964 (có mặt); cùng địa chỉ: Tổ 3, khóm MT, thị trấn MT, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Lê Minh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 10 giờ ngày 28/10/2021, Lê Minh T ngụ khóm MT, thị trấn MT, huyện CL điều khiển xe mô tô hiệu Exciter, biển số 66F1- 591.05 trên đường Quốc Lộ 30, thuộc khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ có biểu hiện nghi vấn nên Công an huyện Cao Lãnh yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra. Trên người T, tại túi quần Jean màu xanh phía sau bên trái có 01 bịch nylong màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng; túi quần bên phải phía trước 01 bịch nylong màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng; trong miếng lót nón bảo hiểm có 01 bịch nylong màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu 01). Công an huyện Cao Lãnh tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo quy định. Lúc này, T khai nhận còn cất giấu 02 bịch ma túy tại túi quần Jean trong phòng ngủ nhà T nên Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ (niêm phong ký hiệu 05) theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, T khai nhận nguồn gốc ma túy là do T mua qua mạng xã hội Facebook vào ngày 25/10/2021 của người đàn ông không rõ nhân thân, đặc điểm với số tiền 8.000.000 đồng, T không nhớ hình thức cụ thể chuyển tiền. Đến khoảng 23 giờ ngày 27/10/2021, có người đàn ông điện thoại yêu cầu T đến khu vực chùa Long Tế, xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh để nhận ma túy. Đến nơi, T gặp người đàn ông không rõ nhân thân đi xe tải (không nhớ biển số, loại xe) giao cho T 01 bịch ma túy. Sau đó, T đem ma túy về phòng ở nhà sử dụng, phần còn lại T chia thành 05 bịch như cơ quan điều tra thu giữ để sử dụng dần.

Tạm giữ tài sản, phương tiện liên quan: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đỏ trắng, imei 355359083296252 cùng sim mạng Mobiphone (niêm phong); 01 ví da màu nâu bên trong có giấy phép lái xe hạng A1 và giấy đăng ký xe môtô biển số 66FI-591.05 tên Lê Minh T; tiền Việt Nam 10.200.000 đồng (niêm phong); 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 xe môtô hiệu Exciter, biển số 66F1-591.05; 01 quần sọt Jean màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đen.

Tại Bản kết luận giám định số 091/KL-KTHS ngày 30/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp đã kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 03 bịch nylong màu trắng, hàn kín niêm phong ký hiệu 01 là chất ma túy, tổng khối lượng 3,075 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể rắn chứa trong 03 bịch nylong màu trắng, hàn kín niêm phong ký hiệu 05 là chất ma túy, tổng khối lượng 9,361 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng chất ma túy là 12,436 gam, loại Methamphetamine (niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định ký hiệu 913/1 và 913/2, cùng ngày 28/10/2021 và chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cao Lãnh).

Đối với điện thoại di động Iphone 7 Plus đỏ trắng, imei 355359083296252 cùng sim mạng Mobiphone, T dùng để liên lạc mua ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra thông tin người bán, nhưng không tìm thấy, nhưng T đã dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với xe môtô hiệu Exciter, biển số 66F1-591.05 (cùng giấy đăng ký xe tên Lê Minh T) và 10.200.000 đồng là tài sản cá nhân của T, tiếp tục giao cơ quan thi hành án dân sự tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 quần sọt Jean màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đen liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 ví da màu nâu bên trong có giấy phép lái xe hạng A1 tên Lê Minh T là tài sản cá nhân và giấy tờ tùy thân của T nên cần trả lại cho bị cáo T.

Tại Bản Cáo trạng số 57/CT-VKS-HCL ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Lê Minh Trọng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Đại diện Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Căn cứ Điều 249 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Minh Trọng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Minh Trọng từ 06 năm đến 07 năm tù.

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử phạt bổ sung bằng hình thức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy: chất ma túy còn lại sau giám định theo niêm phong ký hiệu 913/1 và 913/2, cùng ngày 28/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 quần sọt Jean màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đen.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đỏ trắng, imei 355359083296252 cùng sim vật lý mạng Mobiphone.

+ Giao cơ quan thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh tiếp tục tạm giữ xe môtô hiệu Exciter, biển số 66F1-591.05 (cùng giấy đăng ký xe tên Lê Minh T) và 10.200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

+ Trả lại cho bị cáo Lê Minh T: 01 ví da màu nâu bên trong có giấy phép lái xe hạng A1 tên Lê Minh T.

* Bị cáo Lê Minh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Lê Minh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng. Chính bị cáo đã thực hiện hành vi mua chất ma túy của một người đàn ông tên Hiếu không rõ lai lịch thông qua mạng xã hội Facebook, sau khi nhận được ma túy vào khoảng 23 giờ ngày 27/10/2021 thì bị cáo đem về nhà sử dụng một phần, phần còn lại bị cáo chia nhỏ ra làm 5 phần chứa trong 05 bịch ny lông được hàn kín hai đầu với mục đích sử dụng cá nhân. Vào khoảng 10 giờ ngày 28/10/2021, khi bị cáo đang điều khiển xe trên đường Quốc Lộ 30 thuộc địa phận khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trên người của bị cáo 03 bịch ma túy, sau đó tiếp tục thu giữ tại nhà của bị cáo 02 bịch ma túy còn lại mà bị cáo đang cất giấu tại nhà.

Theo Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp đã xác định chất ma túy đã thu giữ của bị cáo là loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 12,436 gam.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản Kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Minh T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra vụ án.

Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng các chất ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, nó cũng là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy trong xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác trong khi toàn xã hội đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn và các tội phạm về ma tuý. Đáng lý ra, bị cáo phải biết tránh xa các chất ma túy, nhưng ngược lại, vì muốn được sử dụng chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp cũng như có khả năng lao động để tạo thu nhập, do đó, việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; cha của bị cáo - ông Lê Văn T - là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương chiến công hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết này để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với chất ma túy còn lại sau giám định được niêm phong ký hiệu 913/1 và 913/2, cùng ngày 28/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp là vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 quần sọt Jean màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đen đều không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đỏ trắng, số imei 355359083296252 cùng sim vật lý mạng Mobiphone, đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với vật chứng gồm: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số 66F1-591.05, số máy G3D4E634971, số khung RLCUG0610HY609697 (không có chìa khóa, đã qua sử dụng); 01 giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số 66F1-591.05; 01 ví da nam màu nâu (đã qua sử dụng) bên trong có giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Minh T; Các vật chứng này là tài sản của bị cáo, không có liên quan gì đến vụ án nên cần phải trả lại cho bị cáo.

- Đối với số tiền 10.200.000 đồng đã thu giữ của bị cáo cần phải tạm quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông tên Hiếu đã bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 28/10/2021).

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Lê Minh Trọng số tiền 10.000.000 đồng, sung vào ngân sách nhà nước.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Chất ma túy còn lại sau giám định được niêm phong ký hiệu 913/1 và 913/2, cùng ngày 28/10/2021 có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp.

+ 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 quần sọt Jean màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đen đều đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đỏ trắng, số imei 355359083296252 cùng sim vật lý mạng Mobiphone, đã qua sử dụng.

- Tạm quản lý số tiền 10.200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Lê Minh T: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số 66F1-591.05, số máy G3D4E634971, số khung RLCUG0610HY609697 (không có chìa khóa, đã qua sử dụng); 01 giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh đen, biển số 66F1-591.05; 01 ví da nam màu nâu (đã qua sử dụng) bên trong có giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Minh T.

(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2021).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Minh Trọng phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ