vanban.org

Bản án 05/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc A - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-PT
Ngày: 06-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch;

Các Thẩm phán:

Ông Trương Văn Lộc;

Ông Nguyễn Văn Tài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hồ Minh Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 210/2021/TLPT-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2021/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã B tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc A, (tên gọi khác: Lượm A); sinh năm 1983 tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: khu phố 3 phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Trần Thị H sinh năm 1961; có vợ là Võ Thúy V, sinh năm 1983; bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2018.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/12/2020 đến ngày 03/01/2021 bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Tiền án: Ngày 25/3/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 05 tháng 01 ngày tù và xử phạt bổ sung số tiền 3.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 46/2016/HSST được trả tự do ngay tại phiên tòa. Bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí vào ngày 04/01/2021 chấp hành xong tiền lãi chậm thi hành án vào ngày 06/01/2021.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 26/6/2014 bị Công an thị xã B xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “xâm phạm sức khỏe của người khác” chấp hành xong ngày 02/7/2014.

- Ngày 11/9/2015 bị Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “xâm hại sức khỏe của người khác” chấp hành xong ngày 28/10/2015.

Ngoài ra, còn có 05 bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ, ngày 24/12/2020, Trần Kim T, Lê Hoàng A1, Hồ Chí C, Nguyễn Ngọc A ngồi uống cà phê tại Quán cà phê 79 ở khu phố 3 phường T, thị xã B của Nguyễn Hữu V1. Trong lúc uống cà phê cả nhóm xin V1 chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền tại quán, V1 đồng ý. Do thiếu người chơi nên cả nhóm nhờ V1 gọi thêm người đến tham gia đánh bạc. V1 gọi điện thoại cho Nguyễn Thị R rủ đến quán của V1 tham gia đánh bạc, Rơi đồng ý. Sau đó Rơi đến quán cà phê của V1 tham gia đánh bạc cùng với T, A, A1 và C. V1 đưa cho cả nhóm 01 bộ bài tây 52 lá do V1 mua sẵn. Cả nhóm chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang và tạm giữ.

Cách thức đánh bài binh xập xám và quy định thắng thua như sau: Mỗi người chơi đặt cược mỗi tụ 500.000 đồng người nào thắng sẽ lấy hết 500.000 đồng. Quá trình chơi tất cả 04 tụ người chơi và mỗi tụ thay nhau làm cái. Cả nhóm chơi chia thành 04 tụ gồm: T và A hùn tiền chơi thành 01 tụ C, Hoàng A1 và Rmỗi người 01 tụ.

Số tiền mang theo đánh bạc thắng thua của từng người như sau:

- Trần Kim T khi đi đánh bạc không mang theo tiền. T mượn V1 số tiền 5.000.000 đồng dùng để đánh bạc.

- Nguyễn Ngọc A mang theo số tiền 42.640.000 đồng nhưng cất vào bóp không sử dụng vào mục đích đánh bạc A mượn V1 số tiền 5.000.000 đồng dùng để đánh bạc.

Quá trình đánh bạc, A và T hùn mỗi người 5.000.000 đồng và đưa cho T giữ. T để tiền trong túi áo. A là người đánh bạc và T là người thu chi tiền. A và T thắng được 2.000.000 đồng. T cất 12.000.000 đồng trong túi áo đang mặc và bị thu giữ. Tổng số tiền A và T sử dụng đánh bạc là 12.000.000 đồng.

- Lê Hoàng A1 mang theo số tiền 14.395.000 đồng dùng để đánh bạc. Anh lấy ra 1.000.000 đồng để đánh bài trước số tiền 13.395.000 đồng cất trong túi quần, nếu thua hết 1.000.000 đồng sẽ lấy ra để tiếp tục đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, A1 không thắng không thua. Khi bị Công an bắt quả tang, số tiền trên chiếu bạc của A1 là 1.000.000 đồng số tiền thu trong túi quần là 13.395.000 đồng. Tổng số tiền A1 dùng để đánh bạc là 14.395.000 đồng.

- Nguyễn Thị R mang theo số tiền 3.000.000 đồng dùng để đánh bạc. Trong khi Rơi đang đánh bạc có Nguyễn Thị Phương K đến Quán cà phê 79 đưa 30.900.000 đồng tiền hụi cho R. R để số tiền trên tại vị trí ngồi. Quá trình chơi R thua 3.000.000 đồng nên tiếp tục lấy thêm 2.000.000 đồng trong số tiền hụi để đánh tiếp. Số tiền còn lại 28.900.000 đồng R không sử dụng vào mục đích đánh bạc và để tại vị trí ngồi thì bị thu giữ. R chơi bài thua hết 5.000.000 đồng. Tổng số tiền R dùng để đánh bạc là 5.000.000 đồng.

- Hồ Chí C mang theo số tiền 4.000.000 đồng dùng để đánh bạc. C lấy 1.000.000 đồng để đánh bạc trước còn lại 3.000.000 đồng C cất trong túi quần. Quá trình chơi C thua hết 1.000.000 đồng. Khi bị bắt C bị thu giữ 3.000.000 đồng trong túi quần. Tổng số tiền C dùng để đánh bạc là 4.000.000 đồng.

- Nguyễn Hữu V1 không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng có hành vi rủ Nguyễn Thị R đến đánh bạc, cho T và A mỗi người mượn số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc cho T, A, A1, C, R mượn quán cà phê cung cấp bài nước uống và thu tiền xâu với số tiền 800.000 đồng của các đối tượng đánh bạc.

Tổng số tiền T, R, A, C và A1 dùng để đánh bạc là: 29.395.000 đồng. Số tiền V1 thu lợi bất chính là 800.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

+ Thu giữ của Nguyễn Ngọc A 42.640.000 đồng.

+ Thu giữ của Nguyễn Hữu V1 số tiền 800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 5310 màu đen.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình lời khai phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2021/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã B tỉnh Bình Dương đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 25/12/2020 đến ngày 03/01/2021.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Hữu V1 số tiền 60.000.000 đồng về tội Tổ chức đánh bạc.

Các bị cáo Trần Kim T, Nguyễn Thị R, Hồ Chí C, Lê Hoàng A1, Nguyễn Ngọc A phạm tội Đánh bạc.

- Xử phạt bị cáo Trần Kim T số tiền 50.000.000 đồng;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị R số tiền 30.000.000 đồng;

- Xử phạt bị cáo Hồ Chí C số tiền 30.000.000 đồng;

- Xử phạt bị cáo Lê Hoàng A1 số tiền 50.000.000 đồng;

Bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp xử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 12 tháng 10 năm 2021 bị cáo Nguyễn Ngọc A làm đơn kháng cáo xin xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền đúng quy định của pháp luật. Về nội dung Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc A về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là phù hợp và không nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo A. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo A.

Bị cáo không tranh luận trong lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Ngọc A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Ngọc A đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Ngày 24/12/2020 tại Quán cà phê số 79 của Nguyễn Hữu V1 ở khu phố 3, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương Nguyễn Ngọc A cùng với Trần Kim T, Lê Hoàng A1, Hồ Chí C, Nguyễn Thị R và Hồ Hữu V1 đã thực hiện hành vi đánh bạc “binh xập xám”. A hùn với T mỗi người 5.000.000 đồng để đánh bạc và đánh thắng được 2.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất hành vi vai trò nhân thân của bị cáo trong vụ án Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc A về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) với mức hình phạt 01 (một) năm tù là đúng người đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[2] Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Ngọc A kháng cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với lý do: bị cáo là lao động chính trong gia đình bị cáo hiện bị tai nạn bỏng xăng bị cáo có thái độ thành khA khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

[3] Xét thấy bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc” đối với bị cáo là phù hợp, không nặng. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc A giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo A.

[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo A không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc A; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2021/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã B tỉnh Bình Dương về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 25/12/2020 đến ngày 03/01/2021.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Ngọc A phải nộp 200.000 đồng.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không kháng cáo không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ