- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sờn Văn Th - Lương Thị Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Sờn Văn Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HNGĐST Ngày: 20-01-2022 V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hoài Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Duệ.
Ông Hà Văn Đức.
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2021 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Sờn Văn Th. Sinh năm: 1989.
Trú tại: Bản Ch, xã CP, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Có mặt.
- Bị đơn: Chị Lương Thị Đ. Sinh năm: 1992.
Trú tại: Bản Ch, xã CP, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/11/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Sờn Văn Th trình bày: Anh Sờn Văn Th và chị Lương Thị Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 04 tháng 01 năm 2011 tại UBND xã CP, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, quan hệ vợ chồng không còn tình cảm và không còn hạnh phúc. Vì vậy, anh Th làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Lương Thị Đ.
Về quan hệ con cái: Anh Sờn Văn Th và chị Lương Thị Đ có một con chung là cháu Sờn Gia B, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2012. Nếu ly hôn thì anh Th xin nhận nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Đ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra, hai người không nhận nuôi con nuôi và không ai có con riêng.
Về tài sản: Anh Sờn Văn Th không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải cho chị Lương Thị Đ, tuy nhiên chị Đ không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Qua xác minh tại UBND xã CP được biết, sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án, các Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải thì cán bộ UBND xã CP đã trực tiếp đi giao cho chị Đ. Tuy nhiên, chị Đ không có mặt ở nhà nên không thực hiện được việc tống đạt. Theo kết quả xác minh tại Ban công an xã CP được biết, chị Lương Thị Đ có hộ khẩu thường trú tại bản Ch, xã CP, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Hiện nay chị Đ đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương, chị Đ cũng không làm thủ tục khai báo tạm vắng theo quy định. Theo thông tin của mẹ đẻ của chị Đ (Bà Lương Thị D) cung cấp thì chị Đ hiện nay đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có liên lạc về gia đình bằng điện thoại nhưng chị Đ không nói rõ là đang ở đâu. Bà D đã báo cho chị Đ biết việc anh Th làm đơn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhưng do bận công việc nên chị Đ không về tham giai giải quyết tại Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án và chuẩn bị xét xử, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu đã trực tiếp tiến hành thực hiện việc tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa cho chị Đ nhưng chị Đ không có mặt ở nhà nên không thực hiện được việc tống đạt các văn bản nói trên. Vì vậy, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, con chung của anh Sờn Văn Th và chị Lương Thị Đ – cháu Sờn Gia B trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn thì có nguyện vọng được ở với bố.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho anh Th được ly hôn với chị Đ, giao con chung cho anh Th nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Đ. Áp dụng điều 147 BLTTDS, buộc anh Th phải chịu án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa anh Sờn Văn Th và chị Lương Thị Đ là “Ly hôn”. Vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS.
Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lương Thị Đ không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án và cố tình giấu địa chỉ. Đây là lần thứ hai Tòa án mở phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Xét thấy, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS, điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đ.
Về nội dung:
Quan hệ tình cảm: Hôn nhân giữa anh Sờn Văn Th và chị Lương Thị Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn, nay anh Th nhất quyết ly hôn. Thấy rằng, hôn nhân của anh Th - chị Đ không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của anh Th, cho anh Sờn Văn Th được ly hôn với chị Lương Thị Đ, điều này là phù hợp với thực tế cuộc sống và cũng là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Quan hệ con cái: Vợ chồng có một người con chung, ngoài ra không ai có con riêng và không nhận nuôi con nuôi. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Th đề nghị được giao nuôi con chung và không yêu cầu chị Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Theo lời khai của con chung - cháu Sờn Gia B thì nếu bố mẹ ly hôn đều có nguyện vọng được ở với bố. Thấy rằng, việc giao con chung chưa thành niên cho ai nuôi sau khi vợ chồng ly hôn là xuất phát từ quyền lợi của người con được nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất về mọi mặt. Xét thấy, bản thân anh Th có sức khỏe, có nhận thức và công việc ổn định để nuôi con; bên cạnh đó, chị Đào hiện không có mặt tại địa phương và không xác định được địa chỉ nơi chị Đ đang ở và làm việc nên yêu cầu của anh Th là phù hợp với quy định của pháp luật. Cần chấp nhận yêu cầu của anh Th, giao con chung cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lương Thị Đ.
Quan hệ tài sản: Anh Sờn Văn Th không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản. Vì vậy, nên miễn xét.
Về án phí: Cần buộc anh Sờn Văn Th phải chịu án phí DSST về ly hôn.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 147 BLTTDS;
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Sờn Văn Th. Cho anh Sờn Văn Th được ly hôn với chị Lương Thị Đ.
2. Về con cái:
- Giao cháu Sờn Gia B, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2012 cho anh Sờn Văn Th chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.
- Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lương Thị Đ.
- Chị Lương Thị Đ có quyền đi lại, thăm nom và giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Sờn Văn Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006309 ngày 09 tháng 11 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu. Anh Th đã nộp đủ án phí DSST.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Sờn Văn Th có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và chị Lương Thị Đ có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND huyện Quỳ Châu - Chi cục THADS huyện Quỳ Châu - Phòng KTNV&THA - TAND tỉnh Nghệ An - UBND xã CP, H.Quỳ Châu, T.Nghệ An - Lưu hồ sơ vụ án | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Hoài Nam |