- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Nguyễn Tuấn B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Nguyễn Tuấn B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST Ngày: 20-01-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
2. Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 369/2021/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2021/QĐXXST–HNGĐ ngày 10/12/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31/12/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: Tổ 4, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn B, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: Tổ 4, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 01/11/2021 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Trương Thị T trình bày:
Bà Trương Thị T và ông Nguyễn Tuấn B chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai vào ngày 14/5/2015 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 174, quyển số 01/2013. Hôn nhân giữa bà T và ông B hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng bà T và ông B chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn vào năm 2020. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông B không có trách nhiệm với gia đình phụ bà T chăm sóc con chung, mỗi khi vợ chồng cãi vã, ông B lại dọn đồ ra ngoài ở, không nói với gia đình ở đâu, làm gì, ông B rất ít về thăm gia đình và trên thực tế vợ chồng ông bà đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy, hôn nhân giữa bà T và ông B lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn B.
Về con chung: Quá trình sống chung, bà T và ông B có 01 người con chung tên: Nguyễn Trà M, sinh ngày 21/9/2015. Tại đơn khởi kiện cũng tại tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Tuấn B cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Những chứng cứ, tài liệu nguyên đơn đã cung cấp: Bản sao chứng minh nhân dân mang tên Trương Thị T; Sổ hộ khẩu do Trương Văn D đứng tên chủ hộ; Giấy chứng nhận kết hôn; Giấy khai sinh.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Tuấn B. Ông Nguyễn Tuấn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, thông báo thời gian mở phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, ông B không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do. Ông B không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên toà:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn và yêu cầu nuôi con chung với bị đơn nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có đăng ký địa chỉ thường trú và hiện vẫn đang sinh sống tại tổ 4, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Về việc có mặt, vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Trương Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Tuấn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Trương Thị T và bị đơn ông Nguyễn Tuấn B trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai vào ngày 14/5/2015 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 174, quyển số 01/2013. Như vậy, hôn nhân giữa nguyên đơn bà T và bị đơn ông B là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng nguyên đơn xác định từ đầu năm 2020 giữa nguyên đơn và bị đơn đã phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, không thể hàn gắn được. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, ông B không có trách nhiệm với gia đình phụ bà T chăm sóc con chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã, mỗi khi vợ chồng cãi vã, ông B lại dọn đồ ra ngoài ở, ông B đi làm ăn xa không nói với gia đình, lâu lâu mới về thăm gia đình và trên thực tế vợ chồng ông B và bà T đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2020 cho đến nay. Hiện tại, bà T xác định tình cảm giữa hai vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông B. Bị đơn ông Nguyễn Tuấn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, thể hiện ông B không có thiện chí trong việc muốn hàn gắn và bảo vệ hạnh phúc gia đình.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không còn hạnh phúc. Nguyên đơn xác định vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2020, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nguyên đơn xác định không còn tình cảm với bị đơn. Bị đơn không tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến. Cho thấy bị đơn không có thiện chí hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Mặt khác, tại Biên bản xác minh ngày 08/11/2021 tại địa phương nơi bà Th và ông B sinh sống cho biết quá trình sống chung bà T và ông B có phát sinh mâu thuẫn, bà T và con vẫn sống tại địa chỉ tổ 4, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, ông B đã dọn ra ngoài sinh sống, có thỉnh thoảng về nhà thăm gia đình, ông B vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 4, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương nhưng thực tế, bà T và ông B không còn sống chung với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung tên Nguyễn Trà M, sinh ngày 21/9/2015. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Xét thấy, đối với cháu Nguyễn Trà M, sinh ngày 21/9/2015 đang còn nhỏ nên cần được sự trông nom, chăm sóc của người mẹ. Mặt khác, bà T cũng là người chăm sóc và nuôi dưỡng cháu M từ nhỏ. Do đó, việc giao cháu Nguyễn Trà M, sinh ngày 21/9/2015 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Trương Thị T không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Nguyễn Tuấn B.
- Về hôn nhân: Bà Trương Thị Th được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn B.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 174, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai vào ngày 14/5/2015 cho ông Nguyễn Tuấn B và bà Trương Thị T không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Nguyễn Trà M, sinh ngày 21/9/2015 cho bà Trương Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Nguyễn Tuấn B không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Tuấn B có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông B thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Trương Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0004311 ngày 01/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - UBND xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VT. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Thắm Nguyễn Kim Lý | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Kiều Oanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |