- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị T khởi kiện xin ly hôn với bị đơn anh C"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 17 - 01 - 2022. V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Đình Nghệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lư Văn Sĩ.
2. Ông Võ Quốc Thoại.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Lan Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2021/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2021/QĐXX-ST ngày 10 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 91/2021/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị T, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh C, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số W, lộ F, khóm V, phường T, thành phố S, Đài Loan (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị T trình bày: Chị và anh C kết hôn vào ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang. Sau khi kết hôn, chị và anh C chung sống tại Việt Nam khoảng một tuần, sau đó anh C trở về Đài Loan và hai người ly thân cho đến nay. Trong thời gian chung sống, chị và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ngôn ngữ, tính tình và quan điểm sống không phù hợp. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có.
Đối với bị đơn là anh C, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự cho anh C, nhưng anh C vắng mặt và cũng không có gửi văn bản nêu ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T đến Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu, trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự; và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho chị T được ly hôn với anh C theo quy định pháp luật. Riêng về con chung, tài sản chung và nợ chung, do đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị T, địa chỉ thường trú tại ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang, có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh C là người có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan) và đang cư trú tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn anh C đã được Tòa án tiến hành thực hiện ủy thác tư pháp cho Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Anh C đã được triệu tập hợp lệ nhưng không chấp hành văn bản tố tụng của Tòa án và không gửi văn bản nêu ý kiến để phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 474, khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C kết hôn vào ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp, được pháp luật Việt Nam thừa nhận.
Xét thấy, sau khi kết hôn chị T và anh C chung sống tại Việt Nam được khoảng một tuần, sau đó anh C trở về Đài Loan và hai người ly thân cho đến nay. Ngoài ra, trong thời gian chung sống, chị T và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ngôn ngữ, tính tình và quan điểm sống không phù hợp. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh C không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cho chị T được ly hôn với anh C là phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; lệ phí ủy thác tư pháp; chi phí dịch thuật văn bản ủy thác tư pháp: Chị T phải chịu theo quy định.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 470, Điều 474, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Thông tư số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh C.
2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006543 ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí.
3. Lệ phí ủy thác tư pháp: Chị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009822 ngày 04 tháng 6 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành lệ phí ủy thác tư pháp.
4. Về chi phí dịch thuật hồ sơ ủy thác tư pháp (Thông báo về việc thụ lý vụ án): Chị T phải chịu 1.320.000 đồng (đã nộp xong).
5. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Cục THADS tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Đình Nghệ |