- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Yến Ly - Bùi Khánh Hiệp"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin L hôn của chị Lê Thị Yến L. Cho chị Lê Thị Yến L được L hôn với anh Bùi Khánh H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL TỈNH BL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24/02/2022 (V/v Tranh chấp L hôn và nuôi con) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N N HUYỆN PL, TỈNH BL
V i thành ph n Hội đồng t sơ th m gồm c
h m hán - h t a h n t a Ông Danh Văn An
á h th m nh n d n
1/. Ông Trần Văn Phước
2/. Bà Nguyễn Hồng Lành
Thư phiên t a: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân huyện PL tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 130/2021/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp yêu cầu xin L hôn và nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Yến L, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp Mỹ T 2, xã Hưng P, huyện PL, tỉnh BL.
- Bị đơn: Anh Bùi Khánh H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp Mỹ T 2, xã Hưng P, huyện PL, tỉnh BL.
(Chị L có đơn xin vắng mặt, anh H vắng mặt lần 2 không có lý do)
NỘI UNG VỤ N:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/3/2021, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Yến L trình bày: Vào năm 2008, được sự cho phép của hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương cho chị và anh H nên vợ thành chồng, hôn nhân của chị và anh H là hoàn toàn tự nguyện, sau đó chị và anh H có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Hưng P, huyện PL cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.
Nguyên nhân mâu thuẫn để chị yêu cầu xin L hôn với anh H là do tính tình giữa hai người không hòa hợp, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc như trước. Anh H không chí thú làm ăn, thường xuyên uống rượu hành hạ đánh đập vợ con vô cớ, không biết quan tâm đến cuộc sống gia đình. Hiện tại chị và anh H đã sống L thân với nhau khoảng 02 năm nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên nay chị yêu cầu xin L hôn với anh Bùi Khánh H.
Về con chung trong thời gian chung sống vợ chồng chị và anh H chung sống với nhau có 02 người con chung tên Bùi Vũ Lâm, sinh ngày 21/11/2009 và Bùi Hạo Đoan, sinh ngày 27/01/2015. Hiện tại hai cháu Lâm và Đoan đang sống cùng với chị nên nay L hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục cả hai con và không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung chị L xác định vợ chồng chung sống với nhau không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng anh chị nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Bùi Khánh H: Mặc dù anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh H vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh H theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn chị Lê Thị Yến L là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Bùi Khánh H chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Chị L và anh H kết hôn với nhau vào năm 2008, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hiện tại anh chị mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Xét thấy hôn nhân giữa chị L và anh H nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị L được L hôn với anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Từ khi chị L và anh H sống L thân cho đến nay thì chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Lâm và Đoan. Mặc khác, qua tiếp xúc với cháu Lâm thì cháu có nguyện vọng được sống cùng với chị L khi chị L và anh H L hôn với nhau. Anh H không tranh chấp quyền nuôi con với chị L nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cả hai người con tên Bùi Vũ Lâm, sinh ngày 21/11/2009 và Bùi Hạo Đoan, sinh ngày 27/01/2015 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về tài sản chung và nợ chung: Khi L hôn chị L và anh H không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình chị L phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị L có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp L hôn với anh Bùi Khánh H, anh H có địa chỉ cư trú tại huyện PL. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện PL.
Chị Lê Thị Yến L có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị L.
Anh Bùi Khánh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh H vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh H.
[2] Về nội dung vụ án: Chị L và anh H kết hôn với nhau vào năm 2008, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, sau đó anh chị có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Hưng P, huyện PL cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu xin L hôn của chị L đối với anh H thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng chị L và anh H lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Hiện tại chị L và anh H cũng đã sống L thân với nhau khoảng 02 năm nay. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Như vậy chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị L và anh H là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin L hôn của chị L đối với anh H là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị L và anh H chung sống với nhau có 02 người con chung tên Bùi Vũ Lâm, sinh ngày 21/11/2009 và Bùi Hạo Đoan, sinh ngày 27/01/2015. Từ lúc chị L và anh H sống L thân với nhau đến nay thì chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 cháu Lâm và Đoan. Chị L vẫn đảm bảo về điều kiện cho sự phát triển của con và nguyện vọng của cháu Lâm cũng mong muốn được sống cùng với mẹ khi chị L và anh H L hôn với nhau. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của hai cháu Lâm và Đoan khi đang sống với chị L nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải giao người con tên Bùi Vũ Lâm, sinh ngày 21/11/2009 và Bùi Hạo Đoan, sinh ngày 27/01/2015 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Chị Lê Thị Yến L không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Bùi Khánh H.
Anh Bùi Khánh H có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Nếu sau này anh H chứng minh được việc chị L nuôi con, nhưng không lo lắng chăm sóc tốt cho cuộc sống của con thì anh có quyền nộp đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Yến L và anh Bùi Khánh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Từ những nhận định trên xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin L hôn của chị Lê Thị Yến L. Cho chị Lê Thị Yến L được L hôn với anh Bùi Khánh H.
2/. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Bùi Vũ Lâm, sinh ngày 21/11/2009 và Bùi Hạo Đoan, sinh ngày 27/01/2015 cho chị Lê Thị Yến L được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Lê Thị Yến L không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Bùi Khánh H.
Anh Bùi Khánh H có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Lê Thị Yến L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004874 ngày 17 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL, tỉnh BL.
5/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6; quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
6/. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PH N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BL; - VKSND huyện PL; - Chi cục THADS huyện PL; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | anh Văn An |