vanban.org

Bản án 05/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị C xin ly hôn Âu Văn D"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-3-2022
V/v: Ly h n v tranh ch p
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường.

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Hoàng Anh.

2. Ông Ho ng Ngọc Thủy.

- Thư ký phiên toà: B Vy Thị Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở To án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án H n nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn và tranh ch p nu i con khi ly h n thụ lý số 25/2022/TLST-HNGĐ ngày 13/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-HNGĐ ng y 25/02/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14/3/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Th n Đ, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Âu Văn D, sinh năm 1986. Địa chỉ: Th n Đ, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:

Về quan hệ h n nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Âu Văn D đăng ký kết h n năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Trước khi kết h n hai người được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết h n với nhau v được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục truyền thống. Sau khi kết h n, chị về chung sống cùng gia đình nh chồng; đến khi sinh con thứ hai, thì vợ chồng ra ở riêng.

Vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, hòa thuận; nhưng từ khi ra ở riêng, bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, b t đồng quan điểm. Anh Âu Văn D thường xuyên uống rượu chè, chơi cờ bạc, nợ nần rồi kiếm cớ gây sự đánh vợ con; thường xuyên bỏ nh đi v có biểu hiện ngoại tình với người phụ nữ khác. Chị Nguyễn Thị C vì thương các con còn nhỏ nên đã nhiều lần cố gắng khuyên bảo để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng kh ng có kết quả, anh D kh ng thay đổi mà vẫn tiếp tục đánh chửi, xúc phạm mẹ con chị C.

Từ năm 2019 đến nay anh Âu Văn D đã bỏ đi chung sống cùng người phụ nữ khác, vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay; gia đình nội ngoại hai bên nhiều lần khuyên nhủ hai vợ chồng hòa giải nhưng mẫu thuẫn vợ trồng ng y c ng trầm trọng kh ng thể h n gắn. Nay chị Nguyễn Thị C xác định kh ng còn tình cảm vợ chồng, mục đích h n nhân kh ng đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly h n với anh Âu Văn D.

Về con chung: Có hai con chung l cháu Âu Thiếu Q, sinh ng y 05/4/2009 và cháu Âu Thiên A, sinh ngày 18/7/2013; khi ly hôn chị Nguyễn Thị C yêu cầu được nu i dưỡng giáo dục 02 con chung đến khi trưởng th nh, đủ 18 tuổi và anh Âu Văn D có trách nhiệm c p dưỡng nu i mỗi con chung số tiền 1.000.000 đồng/01 con/tháng cho đến khi trưởng th nh đủ 18 tuổi, thời điểm c p dưỡng bắt đầu khi Tòa xét xử Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Âu Văn D; Tòa án đã tiến h nh niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn đều vắng mặt kh ng có lý do nên Tòa án kh ng l y được lời khai cũng như tiến h nh phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận c ng khai chứng cứ v hòa giải được.

Ngƣời làm chứng bà Hoàng Thị P trình bày: Thời gian đầu vẫn th y vợ chồng con gái chung sống hạnh phúc, nhưng từ khi sinh đứa thứ hai, b P có lên nh phụ giúp con gái chăm cháu thì th y hai vợ chồng thường xuyên xích mích cãi nhau. Trong năm 2019, b th y chị con gái đưa cháu về nh ngoại khóc nói rằng chồng đã bỏ đi với người phụ nữ khác, bỏ mặc, kh ng quan tâm chăm sóc gia đình, mỗi lần quay về lại gây gổ kiếm cớ đánh vợ con; nay chị C l m đơn ly hôn, b nh t trí để cho con tự quyết định.

Ngày 18/01/2022 Tòa án đã tiến h nh l y lời khai của cháu Âu Thiếu Q và cháu Âu Thiên  (có người giám hộ l chị Nguyễn Thị C–l mẹ); các cháu đều thể hiện nguyện vọng “trường hợp bố mẹ cháu nhất quyết ly hôn, cháu mong muốn được ở với mẹ cháu”. Tại Biên bản xác minh ngày 15/02/2022, người cung c p th ng tin l Phó chủ tịch Ủy ban nhân xã v trưởng th n Đ thể hiện hai vợ chồng đương sự có mâu thuẫn v đã ly thân với nhau.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm đề nghị giải quyết vụ án như sau:

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, thẩm phán đã tiến h nh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định tư cách đương sự, tiến h nh xác minh, thu thập chứng cứ v gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đều đã đảm bảo đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng đối với phiên tòa dân sự sơ thẩm. Việc tuân theo pháp luật tố tụng, nguyên đơn thực hiện đúng quyền v nghĩa vụ tố tụng theo quy định; bị đơn kh ng thực hiện quyền v nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, v Điều 117 của Luật H n nhân v gia đình. Ch p nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị C được ly h n với anh Âu Văn D. Chị Nguyễn Thị C được quyền trực tiếp nu i dưỡng các con chung đến khi đủ 18 tuổi, anh Âu Văn D có trách nhiệm c p dưỡng nu i mỗi con chung số tiền 1.000.000 đồng/01 con/tháng cho đến khi các con 18 tuổi, điều n y phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi; thời điểm c p dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và người kh ng thực hiện việc c p dưỡng hoặc thực hiện kh ng đầy đủ thì phải chịu trả lãi su t chậm trả. Về t i sản chung v nợ chung: Không xem xét giải quyết. Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra v tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị C có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về quan hệ h n nhân v con chung nên xác định quan hệ tranh ch p của vụ án l ly h n, tranh ch p về nu i con khi ly h n. Bị đơn anh Âu Văn D, cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn nên xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt, trong đó nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được To án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; căn cứ Điều 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến h nh xét xử vắng mặt t t cả những người tham gia tố tụng.

Về quan hệ h n nhân: Chị Nguyễn Thị C v anh Âu Văn D kết h n trên cơ sở tự nguyện v có đăng ký kết h n hợp pháp. Mâu thuẫn gia đình xảy ra theo nguyên đơn trình b y l do bị đơn thường xuyên uống rượu, chơi cờ bạc, nợ nần rồi kiếm cớ gây sự, bạo lực gia đình thậm chí sau khi có quan hệ với người phụ nữ khác thì thường xuyên bỏ nh đi, bỏ mặc gia đình. Mặc dù được vợ v gia đình khuyên giải nhưng kh ng có sự thay đổi m số lần đánh chửi, xúc phạm vợ v các con c ng nhiều thêm. Vợ chồng cũng ly thân từ năm 2019 đến nay đã 03 năm, bản thân chị Nguyễn Thị C xác định tình cảm vợ chồng kh ng còn, nh t quyết yêu cầu được ly h n để được giải thoát khỏi cuộc sống h n nhân kh ng hạnh phúc.

Kết quả xác minh ngày 15/02/2022 có xác nhận của C quyền địa phương xác định giữa vợ chồng chị Nguyễn Thị C và anh Âu Văn D có mâu thuẫn v đã ly thân với nhau thời gian d i. B Ho ng Thị P (mẹ ruột của chị Nguyễn Thị C) trình bày giữa vợ chồng con gái bà có mâu thuẫn do anh D đã bỏ đi cùng người phụ nữ khác mặc kệ con cái kh ng quan tâm chăm sóc, thường xuyên kiếm cớ đánh vợ con. Từ những nhận định nêu trên, xét th y mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị C v anh Âu Văn D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung hiện kh ng tồn tại, mục đích h n nhân kh ng đạt được; yêu cầu ly h n của nguyên đơn l có căn cứ được ch p nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật H n nhân v gia đình.

Về con chung, xét yêu cầu của nguyên đơn về việc nu i con chung và yêu cầu bị đơn c p dưỡng nu i con th y rằng: Hiện tại chị Nguyễn Thị C đang có chỗ ở, c ng việc l m có thu nhập ổn định, đảm bảo khả năng nu i sống bản thân và hai người con sinh hoạt học tập bình thường như những đứa trẻ khác. Anh Âu Văn D không hợp tác khi được Tòa án triệu tập, hiện đang đi l m ăn xa v cũng kh ng có yêu cầu nuôi con, không cung c p t i liệu chứng cứ, chứng minh khả năng, điều kiện nuôi con. Việc phân định trách nhiệm nu i con của nguyên đơn l phù hợp với điều kiện sống, ho n cảnh thực tế của bố mẹ các cháu, khả năng phát triển tâm sinh lý của con chưa thành niên, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của hai con chung trên 07 tuổi.

Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa th nh niên, sự ổn định trong sinh hoạt, học tập, cần giao 02 con chung cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp tr ng nom, nu i dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng th nh, đủ 18 tuổi. Anh Âu Văn D kh ng trực tiếp nu i dưỡng phải có trách nhiệm c p dưỡng nuôi các con chung số tiền 1.000.000 đồng/01 con/tháng cho đến khi các con trưởng th nh, đủ 18 tuổi (Tại biên bản xác minh ngày 14/3/2022, anh Âu Văn D có nghề nghiệp là lao động tự do nhưng chủ yếu là làm thợ xây và có thu nhập trung bình từ 7.000.000đồng-8.000.000đồng/tháng) l phù hợp với mức thu nhập v đảm bảo khả năng c p dưỡng nu i các con chung của người kh ng trực tiếp nu i con. Thời điểm c p dưỡng theo nguyên đơn yêu cầu kể từ khi bản án có hiệu lực phát luật thi h nh v người kh ng thực hiện việc c p dưỡng hoặc thực hiện kh ng đầy đủ thì phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả l phù hợp với quy định pháp luật.

Việc giao con cho người trực tiếp nu i con v yêu cầu c p dưỡng nu i con, các bên đương sự có quyền đề nghị thay đổi trong quá trình nu i dưỡng sau n y theo quy định pháp luật.

Về t i sản chung v khoản nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử kh ng xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự v điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị C có đơn yêu cầu ly h n nên phải chịu án phí ly h n sơ thẩm v anh Âu Văn D phải chịu án phí c p dưỡng nu i con kh ng có giá ngạch.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của những người tiến h nh v tham gia tố tụng l đúng thực tế, phù hợp với t i liệu thu thập trong hồ sơ v diễn biến tranh tụng tại phiên tòa. Đối với quan điểm về việc đề nghị giải quyết nội dung vụ án; đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra được các nhận định, đánh giá chứng cứ, căn cứ để ch p nhận to n bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn l phù hợp với đường lối, định hướng giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử nên được ch p nhận.

Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ v o khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và các Điều 107, 110, 116, 117 của Luật h n nhân v gia đình; Điều 357 v Điều 468 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

1. Quan hệ h n nh n:

Xử cho chị Nguyễn Thị C được ly h n với anh Âu Văn D.

(Đăng ký kết hôn số 57 ngày 08/9/2008 của Uỷ ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn).

2. Con chung:

Chị Nguyễn Thị C được quyền trực tiếp nu i dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cháu Âu Thiếu Q, sinh ng y 05/4/2009 v cháu Âu Thiên A, sinh ngày 18/7/2013 cho đến khi các con chung trưởng th nh, đủ 18 tuổi. Anh Âu Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, kh ng ai được cản trở.

Anh Âu Văn D có nghĩa vụ c p dưỡng nu i mỗi con chung số tiền 1.000.000 đồng/01 con/01 tháng (một triệu đồng/một con/một tháng); thời điểm thực hiện việc c p dưỡng nu i con chung bắt đầu từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến khi các con chung trưởng th nh, đủ 18 tuổi.

Kể từ ng y bản án có hiệu lực pháp luật v hết thời gian c p dưỡng nu i các con chung của đương sự theo tháng m bên được thi h nh (chị Nguyễn Thị C) có đơn yêu cầu thi h nh án, nếu bên phải thi h nh (anh Âu Văn D) không chịu trả hoặc chậm trả số tiền nêu trên, thì h ng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi su t phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng kh ng được vượt quá 20%/năm của khoản tiền phải thi h nh theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, trường hợp kh ng thỏa thuận được v có tranh ch p thì được xác định bằng 50% mức lãi su t giới hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Tài sản chung, khoản nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để nộp Ngân sách Nh nước; xác nhận đã nộp đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0004126 ng y 13/01/2022, tại Chi cục Thi h nh án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Anh Âu Văn D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí c p dưỡng nu i con để nộp Ngân sách Nh nước

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y, kể từ ng y nhận được bản án hoặc ng y bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các điều 6, 7 v 9 Luật thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.

Cỡ chữ