- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Kim O ly hôn Phan Thanh K"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Kim O được ly hôn với anh Phan Thanh K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH H ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST Ngày 01 - 4 - 2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hùng Cường
Bà Nguyễn Thị Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Đình Vân Hiền - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện K-H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 276/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXX-ST ngày 28/02/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/QĐST -HNGĐ ngày 16/3/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kim O
- sinh năm 1994 Địa chỉ: thôn 1, xã Đ, huyện K, tỉnh H.
Có mặt tại phiên tòa
- Bị đơn: Anh Phan Thanh K
- sinh năm 1991 Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn K, huyện K.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 03/11/2021, bản tự khai ngày 13/12/2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim Otrình bày: chị và anh Phan Thanh K tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Kvào năm 2017. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh K ham mê cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên kình cãi. Mặc dù, chị đã nhiều lần cố gắng hòa hợp và tạo điều kiện, nhưng anh K vẫn không thay đổi bản tính. Tình cảm giữa vợ chồng ngày một xa cách, chỉ làm tổn thương nhau trong cuộc sống. Chị và anh K đã không còn chung sống với nhau từ tháng 8/2021 cho đến nay. Chị xác định không còn tình cảm với anh K, chị yêu cầu xin ly hôn với anh Phan Thanh K.
Về con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là Phan Huỳnh Hiểu Minh - sinh ngày 28/7/2017 và Phan Huỳnh Hải Nam - sinh ngày 27/11/2020. Chị O có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị xác định giữa chị và anh K không có tài sản chung.
Về nợ chung: chị xác định giữa chị và anh K không có nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời anh Phan Thanh K đến Tòa án làm việc, nhưng anh K vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị O vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh K; về con chung: 02 con chung là Phan Huỳnh Hiểu Minh - sinh ngày 28/7/2017 và Phan Huỳnh Hải Nam - sinh ngày 27/11/2020. Chị Ocó nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: không có. Bị đơn anh Phan Thanh K vắng mặt tại phiên tòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K- H phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn anh Phan Thanh K vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim O xin ly hôn với anh Phan Thanh K. Về con chung: giao 02 con chung là Phan Huỳnh Hiểu Minh - sinh ngày 28/7/2017 và Phan Huỳnh Hải Nam - sinh ngày 27/11/2020 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, chị O không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Chị O xác định giữa chị và anh K không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét. Về án phí: Chị O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phan Thanh K vắng mặt. Áp dụng khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Phan Thanh K.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim O và anh Phan Thanh K tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn K, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 06/2017 theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị O và anh K thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Chị O cho rằng mâu thuẫn vợ chồng phát sinh là do anh K ham mê cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình, có những lời nói và hành động xúc phạm gây tổn thương cho chị, dẫn đến gia đình không hạnh phúc. Chị O xác định không còn chung sống với anh K từ tháng 8/2021 cho đến nay. Tại biên bản xác minh ngày 10/12/2021 tại Ủy ban nhân dân thị trấn K cho biết: chị O và anh K không đề nghị địa phương hòa giải mâu thuẫn vợ chồng nên địa phương không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, chị O vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh K. Anh Phan Thanh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh K không đến Tòa án làm việc. Điều này chứng tỏ, hôn nhân giữa chị O và anh K đã có mâu thuẫn trầm trọng, dẫn đến gia đình không có hạnh phúc, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Kim O được ly hôn với anh Phan Thanh K.
[3]. Về con chung: Chị O và anh K có 02 con chung là Phan Huỳnh Hiểu Minh - sinh ngày 28/7/2017 và Phan Huỳnh Hải Nam - sinh ngày 27/11/2020. Hiện tại, chị O là người đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung và có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Đây là yêu cầu chính đáng của chị O phù hợp với pháp luật nên cần để chị Otiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Minh, Nam. Chị O không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
[4]. Về tài sản chung: Chị O xác định chị và anh Kkhông có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về nợ chung: Chị O xác định chị và anh Kkhông có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Chị O phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Kim O được ly hôn với anh Phan Thanh K.
[2]. Về con chung: Giao 02 con chung là Phan Huỳnh Hiểu Minh - sinh ngày 28/7/2017 và Phan Huỳnh Hải Nam - sinh ngày 27/11/2020, cho chị Otrực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị O không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Phan Thanh K có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, chị O, anh K có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[3]. Về tài sản chung: không có.
[4]. Về nợ chung: không có.
[5]. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Kim O phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình 300.000 đồng, chị O đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0007587 ngày 19/11/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện K. Chị O đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H; - VKSND huyện K; - Chi cục thi hành án dân sự huyện K; - Ủy ban nhân dân thị trấn K(nơi đăng ký kết hôn); - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ. | Vũ Thị Kim Vinh |