- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị N - Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về Hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trịnh Thị N, cho chị Trịnh Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HNGĐ - ST Ngày 14/02/2022 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Hạnh Quỳnh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Triệu Thị Yên và ông Quốc Văn Tài
Thư ký Toà án: Ông Dương Văn Tiến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 193/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2021, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐST – HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị N, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn AK, xã TA, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang; (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn AK, xã TA, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang; (vắng mặt lần 02, đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2021, nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai, nguyên đơn chị Trịnh Thị N trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị N và anh Nguyễn Văn T đã kết hôn năm 2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã TA, huyện Chiêm Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29/2013 ngày 26/11/2013. Anh T và chị N được cưới hỏi theo đúng phong tục tập quán tại địa phương và chung sống tại thôn AK, xã TA, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc không có mâu thuẫn, cho đến khoảng năm 2019 thì mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hoà hợp thường xảy ra cãi vã, giữa chị N và anh T không thể khắc phục được mâu thuẫn nên đã ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay. Hiện chị N xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn đã trầm trọng, nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn T để giải phóng cuộc sống chung cho nhau.
- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Duy T, sinh ngày 14/01/2014 (hiện nay đang ở cùng chị N), do cháu T ở cùng chị N từ khi vợ chồng ly thân và cháu cũng có nguyện vọng được ở cùng mẹ nên chị N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, mở phiên họp việc kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hòa giải lần 01 và lần 02 cho đến tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn T đều vắng mặt không có lý do và không có quan điểm, ý kiến gửi đến Tòa án (mặc dù đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng). Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trịnh Thị N vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, chị N giữ nguyên ý kiến, quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết tại Tòa án và không thay đổi, bổ sung gì.
Tòa án đã tiến hành xác minh đối với ông Nguyễn Văn Th (bố đẻ của anh T), ông Hà Văn P – Trưởng thôn AK, xã TA và Công an xã TA, xác định anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn AK, xã TA, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, tuy nhiên thực tế hiện nay anh T đã đi làm ăn xa, không có mặt tại gia đình và địa phương, ông Th chỉ biết anh T làm việc tại tỉnh Hải Dương và không biết cụ thể địa chỉ tạm trú cùng như khi nào anh T mới trở về gia đình, địa phương. Ông Th có nhận được văn bản của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa và cam kết thông báo cho anh Nguyễn Văn T biết về việc chị Trịnh Thị N có đơn xin ly hôn (thông tin qua điện thoại di động cho anh T), tuy nhiên do không muốn con hiểu sai về việc bố có can thiệp vào việc giải quyết ly hôn của các con nên ông Th không ký biên bản xác minh do Toà án lập.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định, bị đơn không thực hiện về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; Điều 143, 144, 147 các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trịnh Thị N, cho chị Trịnh Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T; về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy T, sinh ngày 14/01/2014 cho chị Trịnh Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không đề cập xem xét. Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh T không phải chịu án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Về khắc phục kiến nghị vi phạm trong tố tụng: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Trịnh Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn T; Anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn AK, xã TA, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.
Theo cung cấp của Công an xã TA, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang thì anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn AK, xã TA, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Anh T đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ mới nên hiện tại không rõ anh T đang ở đâu, làm gì. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh T đến Tòa án để làm việc nhưng anh T vắng mặt không có lý do, anh T đã được thông báo nhưng vẫn không về, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trịnh Thị N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do (đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng), Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trịnh Thị N và anh Nguyễn Văn T là hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TA, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn chị N và anh T chung sống tại thôn AK, xã TA, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, xảy ra nhiều cãi vã, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ nên đã ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay, chị N xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và mâu thuẫn đã trầm trọng, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Văn T.
Qua điều tra xác minh xác định thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T đã rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; thể hiện tại các Biên bản xác minh ngày 29/11/2021 (BL 42, 43) thấy rằng chị N và anh T đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay và kể từ khi ly thân, giữa anh chị không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau nữa, do vậy giữa anh chị không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trịnh Thị N, cho chị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Quá trình sống chung giữa chị N và anh T có 01 con là Nguyễn Duy T, sinh ngày 14/01/2014, chị N có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn. Anh T không có mặt tại gia đình và địa phương, đồng thời cũng không có văn bản gửi đến Tòa án thể hiện quan điểm ý kiến về quyền nuôi dưỡng con; tại biên bản ghi lời khai đối với cháu T thể hiện khi bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng; do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao cháu Nguyễn Duy T cho chị Trịnh Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không có; Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có; Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chị Trịnh Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 143, 144, 147; các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về Hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trịnh Thị N, cho chị Trịnh Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy T, sinh ngày 14/01/2014 cho chị Trịnh Thị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Trịnh Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Chị N đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa theo biên lai số 0003521 ngày 04/10/2021 nay được chuyển thành án phí dân sự sơ thẩm ly hôn (chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn). Anh Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện - Chi cục THA Dân sự; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã TA (nơi ĐKKH); - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (đã ký) Lâm Hạnh Quỳnh |