- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Tấn L và chị Phạm Thị Y H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TƠ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST Ngày: 08-6-2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huy;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Duy Huy;
2. Ông Phan Tấn Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Công Bình là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Danh-Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Trần Tấn L, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
* Bị đơn: Chị Phạm Thị Y H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Anh L, chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 18/01/2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Trần Tấn L trình bày:
Anh L và chị H kết hôn vào ngày 06/6/2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh L yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
- Về con chung: Anh L và chị H có 01 người con chung tên là Trần Phạm Thanh T, sinh ngày 14/4/2014. Nếu ly hôn, anh L đồng ý giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng và anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh L trình bày không có.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Phạm Thị Y H trình bày:
Điều kiện kết hôn và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa chị H và anh L đúng như anh L đã trình bày, nay anh L yêu cầu được ly hôn với chị H thì chị đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Chị H và anh L có 01 người con chung đúng như anh L đã trình bày, chị H yêu cầu được nuôi cháu Trần Phạm Thanh T, sinh ngày 14/4/2014 và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm Phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ theo quy định tại Điều 28, 35, và 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Thẩm phán thụ lý đúng thẩm quyền, Chánh án ra quyết định phân công Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân đúng quy định; Thẩm phán xác định tư cách người tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Trần Tấn L được ly hôn với chị Phạm Thị Y H.
- Về con chung: Giao con chung Trần Phạm Thanh T, sinh ngày 14/4/2014 cho chị Phạm Thị Y H trực tiếp nuôi dưỡng; anh Trần Tấn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng (2.000.000đ/tháng) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Tấn L, chị Phạm Thị Y H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng khi ly hôn” đúng theo quy định tại khoản 1, 5 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Phạm Thị Y H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của anh Trần Tấn L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn anh Trần Tấn L và bị đơn chị Phạm Thị Y H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Tấn L và chị Phạm Thị Y H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án anh L và chị H đều thừa nhận cuộc sống chung của anh, chị có mâu thuẫn do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, điều đó chứng tỏ anh L và chị H đã thực sự không còn yêu thương nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc anh L yêu cầu ly hôn với chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị H yêu cầu được nuôi cháu Trần Phạm Thanh T, sinh ngày 14/4/2014 và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, anh L cũng đồng ý với yêu cầu của chị H. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp; anh L phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi; thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6 năm 2022. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung: Anh L, chị H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí sơ thẩm: Anh L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến của Kiểm sát viên về tố tụng và nội dung vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 28; Điều 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Tấn L và chị Phạm Thị Y H.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Trần Phạm Thanh T, sinh ngày 14/4/2014 cho chị Phạm Thị Y H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Tấn L phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Phạm Thị Y H để nuôi cháu T với số tiền 2.000.000 đồng/ tháng ( Hai triệu đồng/tháng) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung tính từ tháng 6 năm 2022.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Anh Trần Tấn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về án phí: Anh Trần Tấn L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) anh L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0001027 ngày 21 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Anh L còn phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/6/2022), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Ba Tơ; - Chi cục THADS huyện Ba Tơ; - UBND xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huy |