vanban.org

Bản án 05/2022/HC-ST — Hành chính

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 25/09/2022 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu hủy bỏ “Thông báo số 155/TB-UBND ngày 16/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã BH”.

Giành lại yêu cầu “Buộc Ủy ban nhân dân xã BH thực hiện hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà T do làm đường giao thông” của bà Lê Thị T để giải quyết bằng một vụ án Dân sự khác nếu các bên đương sự có đơn yêu cầu. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Thị T - UBND xã BH"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu hủy bỏ “Thông báo số 155/TB-UBND ngày 16/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã BH”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 102/2014/NĐ-CP Về xử phạt vi phạm hành chính tr…; Điều 173 Luật Tố tụng hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số:05/2022/HC-ST
Ngày: 25/09/2022
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Minh Cường Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Lưu 2. Ông Nguyễn Tuấn Anh

- Thư ký Tòa phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Hiếu – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 05/2021/TLHC- ST ngày 02 tháng 12 năm 2021 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXX - ST ngày 12 tháng 09 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Lê Thị T, sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn MN, xã BH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị T là bà Nguyễn Thị M – Chuyên viên pháp lý thuộc Văn phòng luật sư NNĐ, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân xã BH; Trụ sở: Xã BH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã BH.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh T – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã BH.

3. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Văn M – Sinh năm 1954;

3.2. Anh Nguyễn H – Sinh năm 1978;

3.3. Chị Bùi Thị P – Sinh năm 1989;

3.4. Cháu Nguyễn Bùi P – Sinh năm 2013;

3.5. Chị Nguyễn Thanh H – Sinh năm 1980;

3.6. Anh Nguyễn Xuân T – Sinh năm 1976;

3.7. Cháu Nguyễn Bảo Phương N – Sinh năm 2019;

Địa chỉ: Thôn MN, xã BH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội

Anh Nguyễn H và chị Bùi Thị P là người đại diện theo pháp luật của cháu P.

Anh Nguyễn Xuân T và chị Nguyễn Thanh H là người đại diện theo pháp luật của cháu N.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T và ông M: Luật sư Nguyễn Ngọc Đ - Văn phòng luật sư NNĐ, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Đại diện của người khởi kiện trình bày: Thửa đất số 40, tờ bản đồ số 59 tại Thôn MN, xã BH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội có nguồn gốc của tổ tiên ông M để lại và vẫn sử dụng từ lâu đời. Thửa đất có các cạnh: Phía Đông giáp trục đường làng; Phía Tây giáp nhà ông V; Phía Nam giáp đường ngõ trại; Phía Bắc giáp nhà ông L. Diện tích là 3 sào tương đương với 1080m2, gia đình ông M nhiều đời sinh sống trên thửa đất này không phát sinh tranh chấp liên quan đến ranh giới đất với các hàng xóm liền kề. Năm 1990, mẹ đẻ ông M là cụ Tô Thị H (Chết năm 2012) xây dựng tường đơn phía Đông đến nay vẫn còn. Phía Nam đất trước đây là tường đất, năm 1990 gia đình bà xây thêm tường gạch đơn, bổ trụ ở phía trong đất của gia đình và xây trên chân tường đất cũ (tường đất cũ vẫn còn). Năm 2010, gia đình bà phá bức tường đất cũ và xếp gạch và cây cối đan xem nhau tại vị trí phía ngoài tường gach.

Ngày 06/7/2002 hộ gia đình bà Lê Thị T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2011, chính quyền địa phương nâng cấp đường bê tông nên có trao đổi vận động gia đình bà hiến một phần đất phía Nam nhưng bà không đồng ý. Sau đó chính quyền thuê người ném số gạch 12.000 viên vào vườn và chặt bỏ hết các cây tại vị trí xếp gạch để mở rộng đường. Gia đình bà có ý kiến nhưng không được địa phương giải quyết.

Ngày 12/03/2020 gia đình bà T lại có đơn kiến nghị lên Ủy ban nhân dân xã BH đề nghị giải quyết về việc xã lấn chiếm đất của gia đình bà để làm đường. Ngày 06/11/2021, Ủy ban nhân dân xã BH lập biên bản làm việc với gia đình bà. Ngày 16/11/2020, Ủy ban nhân dân xã BH ra thông báo 155/TB-UBND không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của bà. Do không đồng ý với trả lời của Ủy ban nhân dân xã BH nên gia đình bà T khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh yêu cầu:

1. Hủy bỏ toàn bộ Thông báo số 155/TB-UBND ngày 16/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã BH về việc giải quyết đơn đề nghị của ông (bà): Nguyễn Văn M, Lê Thị T Thôn MN, xã BH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

2. Buộc Ủy ban nhân dân xã BH thực hiện hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà T do làm đường giao thông.

Ngày 26/8/2022, Ủy ban nhân dân xã BH ban hành Quyết định số 141/QĐ-UBND thu hồi, hủy bỏ Thông báo số 155/TB-UBND vì vậy bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu “Hủy bỏ toàn bộ Thông báo số 155/TB-UBND ngày 16/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã BH. Nay bà T tiếp tục yêu cầu giải quyết “Buộc Ủy ban nhân dân xã BH thực hiện hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà T do làm đường giao thông”.

Gia đình bà T đã thuê công ty đo đạc diện tích đang sử dụng là 1.045,5m2 (cả phần đất đã làm đường). Tuy nhiên, theo kết quả đo đạc của Tòa án xác phần chính quyền địa phương lấn của gia đình bà T = 17,6m2 nằm ở cạnh phía Nam thửa đất. Cụ thể là hình tam giác, cạnh phía Tây 1,05m, cạnh phía Bắc là 33,5m, cạnh phía Nam 33,44m, không có cạnh phía Đông. Bà T xác định phần đất này nằm trong phần diện tích đã được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2002.

* Đại diện theo ủy quyền của bên bị kiện, ông Phan Thanh T trình bày: Ông T xác định, phần diện tích đất thực tế mà gia đình bà Lê Thị T đang quản lý, sử dụng do Tòa án tiến hành đo đạc là 1000,7m2. So với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho gia đình bà T thì diện tích sử dụng thực tế đang lớn hơn 10,7m2 vì vậy đối với yêu cầu khởi kiện của bà T là không có căn cứ.

Ngày 26/8/2022, Ủy ban nhân dân xã BH đã ban hành Quyết định số 141/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Thông báo số 155/TB-UBND ngày 16/11/2020.

Đối với yêu cầu “Buộc Ủy ban nhân dân xã BH thực hiện hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà T do làm đường giao thông”, Ủy ban nhân dân xã BH xác định như sau: Chính quyền địa phương đã có chính sách làm đường và thực hiện việc làm đường từ năm 2011, sau khi làm đường gia đình bà T không có bất kỳ ý kiến, khiếu nại gì đối với Ủy ban nhân dân xã BH và chỉ đến năm 2021 thì gia đình bà T mới có đơn yêu cầu chính thức đến Ủy ban nhân dân xã BH. Hiện trạng thực tế hiện nay phần đất mà gia đình bà T đang yêu cầu đang là đường giao thông được dải bê tông, gia đình bà T cũng đã xây tường kiên cố tại ví trị hiện nay đang có tranh chấp từ năm 1990, chứ không phải mới xây dựng. Hiện trạng thực tế gia đình bà T vẫn đang sử dụng phần diện tích đất lớn hơn so với phần diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy Ủy ban nhân dân xã BH không đồng ý với yêu cầu khởi kiện này của bà T và đề nghị Tòa án giữ nguyên hiện trạng thực tế.

Còn về việc hiện nay gia đình bà T đang sử dụng thực tế phần diện tích đất lớn hơn so với phần diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ được giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T, ông M sau khi trình bày luận cứ bảo vệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; người tham gia tố tụng đã chấp hành tốt pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của người khởi kiện đã rút. Đối với yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân xã BH thực hiện hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà T do làm đường giao thông do không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án nên giành lại để giải quyết bằng một vụ án Dân sự khác nếu các bên có đơn yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

* Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 16/11/2020, Ủy ban nhân dân xã BH ban hành Thông báo số 155/TB-UBND về việc giải quyết đơn đề nghị của ông (bà): Nguyễn Văn M, Lê Thị T Thôn MN, xã BH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

Không nhất trí với thông báo trên, ngày 1/02/2021, ông Nguyễn Văn M gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND xã Bắc Hồng; Ngày 7/10/2021, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh thụ lý đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn M; Ngày 11/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh ra quyết định Đình chỉ vụ án do ông M rút đơn khởi kiện; Ngày 1/12/2021, bà T nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu:

- Hủy bỏ toàn bộ Thông báo số 155/TB-UBND ngày 16/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã BH về việc giải quyết đơn đề nghị của ông (bà): Nguyễn Văn M, Lê Thị T Thôn MN, xã BH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

- Buộc Ủy ban nhân dân xã BH thực hiện hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà T do làm đường giao thông.

Tại điểm a khoản 2 điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là “01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định buộc kỷ luật thôi việc” do đó Đơn yêu cầu của người khởi kiện nằm trong thời hiệu thụ lý vụ án.

* Xét yêu cầu của người khởi kiện:

a. Đối với yêu cầu hủy bỏ toàn bộ Thông báo số 155/TB-UBND ngày 16/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã BH:

Ngày 26/8/2022, Ủy ban nhân dân xã BH ban hành Quyết định số 141/QĐ-UBND thu hồi, hủy bỏ Thông báo số 155/TB-UBND; Ngày 12/09/2022, bà Lê Thị T nộp đơn xin nghị rút một phần yêu cầu đối với yêu này vài vậy cần đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút của người khởi kiện.

b. Đối với yêu cầu “Buộc Ủy ban nhân dân xã BH thực hiện hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà T do làm đường giao thông”:

Ngày 06/07/2002, Hộ gia đình bà Lê Thị T được UBND huyện Đông Anh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 59, tờ bản đồ số 40, diện tích 990 m2 tại thôn Mỹ Nội, xã Bắc Hồng. Năm 2011 chính quyền địa phương tiến hành làm đường tiếp tiếp giáp cạnh phía Nam thửa đất của gia đình bà T.

Theo kết quả xem xét, thẩm định của Tòa án và kết quả đo đạc của cơ quan chuyên môn thể hiện như sau:

+ Phần diện tích đường nằm trong bản đồ (cạnh phía Nam) do gia đình bà T chỉ = 13,1m2. Phần diện tích đường nằm trong bản đồ (cạnh phía Nam) gia đình bà T không chỉ = 0,2m2.

Tổng cộng diện tích đất có trong bản đồ (cạnh phía Nam) hiện nay gia đình bà T không sử dụng = 13,3m2.

+ Phần diện tích đường nằm ngoài bản đồ (cạnh phía Đông) gia đình bà T đang sử dụng = 30,2m2 (Có sơ đồ kèm theo)

Như đã phân tích ở trên, do Ủy ban nhân dân xã BH đã ban hành quyết định thu hồi, hủy bỏ thông báo 155/TB-UBND ngày 16/11/2020. Vì vậy yêu cầu buộc hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm do làm đường giao thông của bà T không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án này, cần giành lại để giải quyết bằng một vụ án Dân sự khác nếu các bên đương sự có đơn yêu cầu.

Án phí Hành chính sơ thẩm: Bà Lê Thị T là người trên 60 tuổi nên không phải chịu án phí;

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 29, 30, 31,173,193, 204, 206 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu hủy bỏ “Thông báo số 155/TB-UBND ngày 16/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã BH”.

2. Giành lại yêu cầu “Buộc Ủy ban nhân dân xã BH thực hiện hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà T do làm đường giao thông” của bà Lê Thị T để giải quyết bằng một vụ án Dân sự khác nếu các bên đương sự có đơn yêu cầu.

3. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt án hợp lệ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nơi nhận:

Thẩm phán

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh

- Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh

- Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

- Các đương sự

- Lưu hồ sơ

Ngô Minh Cường Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

- VKSND H. Đông Anh.

- TAND TP. Hà Nội.

- THA huyện Đông Anh.

- Lưu hồ sơ vụ án

Ngô Minh Cường Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐÔNG ANH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hà nội, ngày 30 tháng 11 năm 2015

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 11 giờ 00 ngày 30/11/2015, tại phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Đông Anh thành phố Hà Nội. Hội đồng xét xử tiến hành nghị án đối với vụ án dân sự thụ lý số: 143/2014/TLST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2014 về việc “Tranh chấp về thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2015/QĐST - DS ngày 27/10/2015 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2015/QĐST - DS ngày 13/11/2015 giữa các đương sự: * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. * Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn Hải là ông Trịnh Khánh Toàn, sinh năm 1972, địa chỉ: Số 16 ngách 814/3 đường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. (Theo Giấy uỷ quyền ngày 07.01.2015, số công chứng 35/2015/GUQ, quyển số 01-TP/CC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Quốc Thái, địa chỉ 577 đường Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội). *Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Hiệp, sinh năm 1973 Địa chỉ: Thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. *Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1/ Bà Nguyễn Thị Mẫn, sinh năm 1939 Địa chỉ: Thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 2/ Bà Nguyễn Thị Phòng, sinh năm 1952. Địa chỉ: Thôn Đản Mỗ, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 3/ Bà Nguyễn Thị Hàn, sinh năm 1955. Địa chỉ: Thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. * Người đại diện theo uỷ quyền của các bà Mẫn, Phòng và Hàn là Ông Phạm Quốc Thanh, sinh năm 1977; Trú tại: tổ 29 phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội (Theo Giấy uỷ quyền ngày 22.12.2014, số công chứng 2052,2053,2054/GUQ, quyển số 05-TP/CC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Quốc Thái, địa chỉ 577 đường Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội). 4/ Chị Nguyễn Thị Liễu, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 5/ Chị Nguyễn Thị Toan, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 6/ Chị Nguyễn Thị Uyên, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn Phúc Lộc, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 7/ Anh Nguyễn Văn Điệp, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 8/ Chị Ngô Thành Huế, sinh năm 1984 (vợ anh Điệp) 9/ Chị Lê Thị Toán, sinh năm 1977( vợ anh Hiệp). 10/ Cháu Nguyễn Tiến Anh, sinh năm 2004 ( con anh Hiệp) 11/ Cháu Nguyễn Tiến Hoàng, sinh năm 2002 ( con anh Hiệp) Cùng có địa chỉ: Thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật của các cháu Tiến Anh và Tiến Hoàng là bố mẹ đẻ của các cháu: Anh Nguyễn Văn Hiệp và chị Lê Thị Toán 12/ Chị Nguyễn Thị Liễu, sinh năm 1965 (là người thuê nhà trọ). Địa chỉ: thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 13/ Ông Nguyễn Phước Linh, sinh năm 1965 (là người thuê nhà trọ). Hộ khẩu thường trú: số 133 tập thể điện Yên Phụ, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội; Tạm trú: thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 14/ Chị Khuất Thị Sen, sinh năm 1986 (là người thuê nhà trọ). 15/ Cháu Lê Ngọc Ánh, sinh năm 2008 (là người thuê nhà trọ). 16/ Cháu Khuất Duy Thuận, sinh năm 2005 (là người thuê nhà trọ). Cùng có hộ khẩu thường trú: Thôn 5 Quảng Sơn, ĐakGlong, Đak Nông, Tạm trú: thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật của các cháu Ánh và Thuận là mẹ đẻ của các cháu: Chị Khuất Thị Sen.

Về việc “Tranh chấp về thừa kế” Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tiến

Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trung Thông

Bà Nguyễn Thị Nghiêm

Sau khi thảo luận Hội đồng xét xử biểu quyết: 3/3 và đã quyết định như sau:

Áp dụng :

- Áp dụng các điều 649, 650, 651, 652, 653, 655, 656 Bộ luật dân sự năm 1995. Điều 599, 600 và 733 Bộ luật dân sự năm 2005.

- Khoản 3 Điều 100 Luật đất đai năm 2013

- Khoản 5 Điều 25, Điều 179, Điều 243, Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Điểm b khoản 1 Điều 24, Khoản7, 13 Điều 27, khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án..

Xử: Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Nguyễn Văn Hải.

- Xác định cụ Nguyễn Thị Ba chết ngày 16/01/2008, thời hiệu chia thừa kế của cụ Nguyễn Thị Ba vẫn còn. Thời điểm mở thừa kế của cụ Nguyễn Thị Ba là ngày 16/01/2008.

- Xác định bản di chúc đề ngày 28/10/2000 của cụ Nguyễn Thị Ba là di chúc hợp pháp. Tài sản của cụ Nguyễn Thị Ba để lại được chia theo di chúc.

- Xác định người thừa kế theo di chúc của cụ Nguyễn Thị Ba là ông Nguyễn Văn Hải.

- Xác định di sản của cụ Nguyễn Thị Ba là 215m2 đất tại thửa đất số 41; tờ bản đồ số 5C thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội nay là thửa đất số 38 tờ bản đồ số 79 tại thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trị giá 4.300.000.000đồng chia thừa kế theo di chúc cho ông Nguyễn Văn Hải.

- Giao cho ông Nguyễn Văn Hải diện tích đất được chia thừa kế theo di chúc là 168,4m2 tại thửa đất số 41, tờ bản đồ số 5C thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội nay là thửa đất số 38 tờ bản đồ số 79 tại thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội trị giá 3.368.000.000đồng. Ranh giới đất được xác định như sau: Chiều giáp ngõ xóm là 7,65m; Chiều giáp nhà đất do vợ chồng anh Hiệp đang quản lý là 21,26m; Chiều giáp nhà đất hộ bà Nguyễn Thị Nhỡ là 21,68m; Chiều ngang giáp nhà ông Nguyễn Văn Bình có các cạnh 5,57m và 2,42m (có sơ đồ thửa đất kèm theo).

- Buộc gia đình anh Nguyễn Văn Hiệp phải trả lại phần diện tích 168,4m2 đất tại thửa đất số 41; tờ bản đồ số 5C thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội nay là thửa đất số 38 tờ bản đồ số 79 tại thôn Phan Xá, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội cho ông Nguyễn Văn Hải và phải có trách nhiệm tháo dỡ các tài sản gắn liền với đất gồm 06 gian nhà trọ cấp 4, lán tôn, tường bao quanh, cổng, sân xi măng trả lại phần đất cho ông Nguyễn Văn Hải.

- Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn hỗ trợ cho gia đình anh Hiệp số tiền 50.000.000đồng tiền san lấp mặt bằng, số tiền này được trừ vào số tiền gia đình anh Hiệp thanh toán trị giá quyền sử dụng đất cho ông Hải. Do vậy sau khi đối trừ nghĩa vụ cần buộc vợ chồng anh Nguyễn Văn Hiệp thanh toán trị giá quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Hải số tiền 882.000.000đồng.

- Buộc những người đang thuê nhà tạm trú trên phần đất của ông Hải được giao chuyển đi nơi khác để trả lại cho ông Hải phần đất được giao. Nếu có tranh chấp về hợp đồng thuê nhà thì được giải quyết bằng vụ kiện khác nếu có căn cứ và có yêu cầu.

- Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất đã được phân chia theo quy định của pháp luật.

Bác tất cả các yêu cầu khác của các bên đương sự.

- Về án phí: Ông Nguyễn Văn Hải phải chịu 99.360.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 12.000.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 6449 ngày 09/12/2014 của chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh; Ông Hải còn phải nộp tiếp số tiền 87.360.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vợ chồng anh Nguyễn Văn Hiệp phải chịu 38.460.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ. Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ