- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 119, 317, 318, 323, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ chính? Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KÔNG CHRO TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/DSST Ngày: 18/5/2022 “Về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KÔNG CHRO - TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Siu Drênh;
2. Ông Trần Ngọc Chuyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 19/2021/TLST-DS ngày 05/8/2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-DS, ngày 18/4/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt; Địa chỉ: Tòa nhà Thai Holdings, số 210 Trần Quang khải, quận Hòa Kiếm, thành phố Hà Nội. Người đại diện cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt; Ông Nguyễn Tấn N, chức vụ giám đốc Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai (văn bản ủy quyền số: 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt). Người đại diện giám đốc chi nhánh Gia Lai trực tiếp tham gia tố tụng ông Trần Thanh T, chức vụ: giám đốc Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro (giấy ủy quyền số 78/2021/UQ-LienVietPostBank.GiaLai, lập ngày 01/7/2021 của giám đốc Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai ) – có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1992 và anh Lương Văn T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn Gia Yên, xã An Trung, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai – vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 02/8/2021 và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn trình bày:
Theo hợp đồng tín dụng số HDTD 59C202081, ngày 27/10/2020 chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Gia Lai phòng giao dịch Kông Chro theo sản phẩm cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn với hạn mức tín dụng là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) phương thức cho vay hạn mức mục đích vay bổ sung vốn chăn nuôi bò, thời hạn vay là 36 tháng từ ngày 27/10/2020 đến ngày 26/10/2023 và theo giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 59C202081/01 đã ký ngày 30/10/2020 với số tiền giải ngân là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), lãi suất cho vay 10%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay. Thời hạn vay là 11 tháng kể từ ngày 30/10/2020 đến ngày 30/9/2021 với phương thức trả nợ là khách hàng sẽ trả lãi vào ngày 25 hàng tháng và trả nợ gốc vào ngày 30/9/2021. Hình thức bảo đảm tiền vay cho vay có tài sản đảm bảo có dư nợ hiện tại của chị L và anh T là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), hiện tại khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 27/5/2021 nguyên nhân là do đến hạn trả nợ chị L và anh T không thực hiện trả lãi và gốc theo thỏa thuận. Khi vay tiền tại Ngân hàng chị L và anh T có thế chấp bằng tài sản theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC 59C202002, ngày 27/10/2020 và phụ lục hợp đồng số PL01HDDTC59C202002, ngày 29/10/2020 do chị Nguyễn Thị Cẩm L đứng tên bên thế chấp; tài sản thế chấp bao gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 157871, do UBND huyện Kông Chro cấp ngày 13/9/2016, đất thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 37 với diện tích 822,7m2 , trong đó: Đất ở là 200m2 , đất trồng cây lâu năm 622,7m2 ; địa chỉ thửa đất tại Thôn Gia Yên, xã An Trung, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai mang tên bà Nguyễn Thị Cẩm L, kể từ khi vay đến ngày 25/02/2021 chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T phải trả nợ cho Ngân hàng nhưng đến thời điểm hiện tại chị L và anh T vẫn không trả nợ cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với anh T và chị L nhưng anh chị vẫn cố tình không chịu trả cho Ngân hàng.
Hiện tại hợp đồng tín dụng cũng đã quá hạn nhưng hộ vay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã ký kết tại hợp đồng tín dụng và từng giấy nhận nợ và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Gia Lai phòng giao dịch Kông Chro yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T phải trả cho TMCP Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Gia Lai phòng giao dịch Kông Chro số tiền là 233.725.908 đồng (hai trăm ba mươi ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm lẻ tám đồng), trong đó tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng); tiền nợ lãi quá hạn là 13.564.821 đồng; tiền lãi chậm trả là 1.256.978 đồng; tiền lãi chậm trả gốc là 18.904.110 đồng và tiền lãi phát sinh.
- Nếu chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Gia Lai phòng giao dịch Kông Chro có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC 59C202002, ngày 27/10/2020 và phụ lục hợp đồng số PL01HDDTC59C202002, ngày 29/10/2020 do chị Nguyễn Thị Cẩm L đứng tên bên thế chấp hay bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của chị L anh T để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Về phía bị đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn Gia Yên, xã An Trung, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt đầy đủ và hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng chị L và anh T vắng mặt, không tham gia tố tụng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay và không có văn bản trình bày ý kiến hay yêu cầu gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong việc xây dựng hồ sơ vụ án, tiến hành các thủ tục tố tụng; việc chấp hành pháp luật của các đương sự và của Hội đồng xét xử tại phiên toà, khẳng định: Toà án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp; các thủ tục tố tụng được đảm bảo đúng thời hạn theo đúng quy định của pháp luật riêng thời hạn chuẩn bị xét xử thì có sự vi phạm; nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, riêng bị đơn chấp hành không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình; Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật khi giải quyết vụ án, không có sai sót, vi phạm xảy ra.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T phải có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) nợ gốc và tiền lãi phát sinh như thỏa thuận của hợp đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; chị L và anh T phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về chi phí tố tụng buộc chị L và anh T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng). Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng vì vậy buộc chị L và anh T phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt (thông qua chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro) số tiền 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp:
Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt ủy quyền cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro khởi kiện chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T để yêu cầu trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số HDTD 59C202081, ngày 27/10/2020 do đó đây là vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng. Chị L và anh T có địa chỉ cư trú tại thôn Gia Yên, xã An Trung, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để trình bày ý kiến, hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do. Chính vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh chị là đúng với quy định tại các Điều 227 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt thông qua Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro với chị L và anh T ký Hợp đồng tín dụng số HDTD 59C202081, ngày 27/10/2020. Theo đó Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro cho chị L và anh T vay số tiền 200.000.000 đồng, phương thức cho vay hạn mức mục đích vay bổ sung vốn chăn nuôi bò, thời hạn vay là 36 tháng từ ngày 27/10/2020 đến ngày 26/10/2023 và theo giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 59C202081/01 đã ký ngày 30/10/2020 với số tiền giải ngân là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), lãi suất cho vay 10%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay. Thời hạn vay là 11 tháng kể từ ngày 30/10/2020 đến ngày 30/9/2021 với phương thức trả nợ là khách hàng sẽ trả lãi vào ngày 25 hàng tháng và trả nợ gốc vào ngày 30/9/2021. Hình thức bảo đảm tiền vay cho vay có tài sản đảm bảo bằng tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC 59C202002, ngày 27/10/2020 và phụ lục hợp đồng số PL01HDDTC59C202002, ngày 29/10/2020 do chị Nguyễn Thị Cẩm L đứng tên bên thế chấp; tài sản thế chấp bao gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 157871, do UBND huyện Kông Chro cấp ngày 13/9/2016, đất thuộc thửa đất số 53, tờ bẩn đồ số 37 với diện tích 822,7m2 , trong đó: Đất ở là 200m2 , đất trồng cây lâu năm 622,7m2; địa chỉ thửa đất tại Thôn Gia Yên, xã An Trung, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai mang tên chị Nguyễn Thị Cẩm L, kể từ khi vay đến ngày 25/02/2021 chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T phải thực hiện việc trả nợ cả gốc và lãi cho Ngân hang nhưng đến thời điểm hiện tại chị L và anh T không thực hiện việc trả nợ mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với chịu L và anh T nhưng anh chị vẫn cố tình không trả nợ cho Ngân hang.
Xét các bên ký hợp đồng hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của các hợp đồng đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật dân sự và các Điều 91 và 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Quá trình thực hiện hợp đồng, đã đến hạn trả gốc và lãi định kỳ nhưng bên vay không trả là vi phạm vào những cam kết mà các bên đã ký kết trong hợp đồng tín dụng số HDTD 59C202081, ngày 27/10/2020, nên khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn. Vì vậy Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt thông qua Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị L và anh T phải trả nợ gốc và lãi phát sinh, đồng thời đề nghị xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp chị L và anh T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ để thu hồi nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về yêu cầu trả nợ lãi: Xét sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên là phù hợp với Điều 34 Quy chế cho vay đối với khách hàng số 817/2020/QC-HĐQT, ngày 24/9/2020 của Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt và theo quyết định số 10/2020/QĐ-LPB.KCR, ngày 30/9/2020 của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro và nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi phù hợp với chính sách lãi suất của Ngân hàng trong từng thời kỳ, đúng theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đối chiếu bảng sao kê về lãi suất do nguyên đơn cung cấp thì tính đến ngày xét xử sơ thẩm 18/5/2022, chị L và anh T còn nợ Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro số tiền là 233.725.908 đồng (hai trăm ba mươi ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm lẻ tám đồng), trong đó tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng); tiền nợ lãi quá hạn là 13.564.821 đồng; tiền lãi chậm trả là 1.256.978 đồng; tiền lãi chậm trả gốc là 18.904.110 đồng như đã trình bày là có cơ sở, nên cần chấp nhận. Như vậy cần buộc chị L và anh T phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro 200.000.000 đồng nợ gốc; nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (18/5/2022) là 233.725.908 đồng (Hai trăm ba mươi ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm lẻ tám đồng). Trong đó tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); tiền nợ lãi là 33.725.908 đồng (ba mươi ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm lẻ tám đồng).
[3] Về xử lý tài sản thế chấp: Ngày 18/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Kông Chro đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản mà chị L và anh T đã thế chấp cho Ngân hàng thuộc thửa đất số 53; tờ bản đồ số 37, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 157871; địa chỉ thửa đất hiện nay tại thôn Gia Yên, xã An Trung, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai, do ủy ban nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai cấp ngày 13/9/2016 cho chị L và anh T. Hiện trạng thửa đất trên qua quá trình xem xét thực tế thì thửa đất trên có diện tích là 807,8m 2 (trong đó: Đất ở tại nông thôn là 200m 2 ; đất trồng cây lâu năm là 607,8 m2 ) so với giấy chứng nhận được cấp thì diện tích đất trên thiếu 14,9 m so với thực tế diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 157871 và hiện tại đất trên không có tranh chấp. Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HĐTC 59C202002, ngày 27/10/2020 và phụ lục hợp đồng số PL01HDDTC59C202002, ngày 29/10/2020 giữa Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro với chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T. Nội dung và hình thức của Hợp đồng thế chấp đúng theo quy định tại các Điều 117; Điều 118; Điều 119; Điều 317; Điều 318; Điều 319 của Bộ luật dân sự; Luật các tổ chức tính dụng năm 2010 và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực. Do đó trong trường hợp chị L và anh T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Kông Chro xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HĐTC 59C202002, ngày 27/10/2020 để thu hồi nợ.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ các Điều 157; Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự, số tiền chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng). Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro đã nộp tạm ứng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên chị L và anh T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.100.000 đồng. Do đó chị L và anh T phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro số tiền 3.100.000 đồng.
[5]. Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với nội dung vụ án là phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ trả nợ.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 158; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 119, 317, 318, 323, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, buộc chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – Chi nhánh Gia Lai – Phòng giao dịch Kông Chro số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) nợ gốc và tiền nợ lãi quá hạn là 13.564.821 đồng; tiền lãi chậm trả lãi là 1.256.978 đồng; tiền lãi chậm trả gốc là 18.904.110 đồng nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (18/5/2022). Tổng cộng là 233.725.908 đồng (hai trăm ba mươi ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm lẻ tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (18/5/2022) chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Kông Chro xử lý tài sản theo Hợp đồng thế chấp số HĐTC 59C202002, ngày 27/10/2020 giữa Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt với Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T để thu hồi nợ.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.100.000 đồng. Do Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai – phòng giao dịch Kông Chro số tiền 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí:
- Buộc Nguyễn Thị Cẩm L và anh Lương Văn T phải chịu 11.686.295 đồng (Mười một triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm chín mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị L và anh T chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Gia Lai thông qua phòng giao dịch Kông Chro số tiền 5.288.115 đồng (Năm Triệu hai trăm tám mươi tám nghìn một trăm mười lăm đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0009774 ngày 05/8/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Kông Chro; - Chi cục THADS huyện Kông Chro; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Tiến |