vanban.org

Bản án 05/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam.

Buộc ông P và bà A có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân tổng số tiền 808.297.903 đồng (tám trăm lẻ tám triệu hai trăm chín mươi bảy ngàn chín trăm lẻ ba đồng), trong đó nợ gốc là 571.450.621 đồng (năm trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi ngàn sáu trăm hai mươi mốt đồng); lãi trong hạn là 166.298.077… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:05/2022/DS-ST
Ngày: 21/01/2022
“V/v trAh chấp hợp đồng tín
dụng”

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hồng Duy.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Tịnh và ông Nguyễn Duy Chấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị ThAh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2021/TLST-DS, ngày 05 tháng 03 năm 2021 về “TrAh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:54a/2020/QĐXX-ST, ngày 30 tháng 6 năm 2021. Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2021/QĐST-DS, ngày 26/3/2021 giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng.

Người đại diện theo pháp luật ông H, Chủ tịch hội đồng quản trị.

Địa chỉ: Số A, đường B, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Đ Giám đốc xử lý nợ.

Người được ủy quyền lại ông C, có mặt.

Địa chỉ: số X, đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Gọi tắt là ngân hàng

- Bị đơn: Ông P và bà A, đều vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông H, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai của người đại diện theo ủy quyền lại ông Nguyễn Xuân Cường trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa:

Ngày 21/3/2018, ông P và bà A có ký kết hợp đồng tín dụng số DLK201851713804 vay số tiền 650.000.000 đồng, với mục đích đầu tư nông nghiệp, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất trong hạn 11.89%/năm và được điều chỉ tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cho vay hỗ trợ cây cà phê trung hạn (+) biên độ 4.04%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả tiền lãi 10%, thời hạn trả lãi 06 tháng/lần, thời hạn trả nợ gốc: Ngày 21/3/2020, trả số tiền 162.500.000 đồng. Ngày 21/3/2021, trả số tiền 162.500.000 đồng. Ngày 21/3/2022, trả số tiền 162.500.000 đồng. Ngày 21/3/2023, trả số tiền 162.500.000 đồng.

Để đảm bảo khoản vay, ông P và bà A và ngân hàng thỏa thuận duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số DLK20150590/HĐTC, ngày 29/9/2015, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của giấy chứng nhận quyền dụng đất số BL116621, được UBND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/12/2012, đứng tên ông P và bà A; thửa đất số A , tờ bản đồ số C tọa lạc tại, xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Hợp đồng thế chấp có công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm tại chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng đã giao đủ số tiền 650.000.000 đồng cho ông P và bà A thể hiện giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số DLK201851713804/01, ngày 21/3/2018. Ngày 21/3/2020, ông P và bà A thanh toán tiền nợ gốc 78.549.379 đồng và số tiền lãi 49.734.921 đồng. Sau đó ông P và bà A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ.

Tính đến ngày 21/01/2022, ông P và A đang nợ và ngân hàng yêu cầu thanh toán số tiền số tiền nợ gốc 571.450.621 đồng, tiền lãi trong hạn 166.298.077 đồng, lãi quá hạn 51.344.747 đồng, lãi chậm trả tiền lãi 19.204.458 đồng. Từ ngày 22/01/2022, tiếp tục tính lãi suất theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ.

Ông P, bà A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và lại thì xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số DLK20150590/HĐTC, ngày 29/9/2015 để thu hồi nợ cho ngân hàng.

Án phí dân sự: Ông P, bà A phải chịu theo quy định của pháp luật.

Chi phí nhắn tin đối với ông P và bà A trên báo Công lý và Đài tiếng nói Việt Nam 03 số liên tiếp, chi phí hết 03 triệu đồng. Ngân hàng yêu cầu ông P và bà A phải hoàn trả số tiền nói trên.

Chi xem xét thẩm định tại chỗ ông P và bà A phải chịu và hoàn trả cho ngân hàng số tiền 2.000.000 đồng

- Bị đơn ông P và bà A: Qua xác minh, ông P và bà A có đăng ký Hộ khẩu thường trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nhưng hiện nay vắng mặt và đi khỏi địa phương, không còn sinh sống tại địa phương, bỏ đi đâu thì không xác định được. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã tiến hành niêm yết văn bản tố tụng tại địa chỉ trên và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trung ương để ấn định thời gian làm việc tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, tuy nhiên bị đơn ông P và bà A vẫn vắng mặt không có lý do.

Về tài sản thế chấp: Ngày 14/6/2021, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ: Thửa đất 142, tờ bản đồ số 50, giấy chứng nhận quyền dụng đất số BL116621, được UBND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/12/2012, đứng tên ông P và bà A (hợp đồng thế chấp tài sản số DLK20150590/HĐTC, ngày 29/9/2015), lô đất này trên thực tế phù hợp, đúng vị trí.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông H cho biết: Hiện ông P, bà A không còn ở địa phương và sinh sống ở đâu thì không biết. Đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 50, thì ông P và bà A giao cho ông H quản lý và cách tác, khi giao chỉ nói miệng không có giấy tờ. Lô rẫy này ông đã đầu tư chăm sóc và đã thụ hoạch xong, lô đất này ông H biết thế chấp cho ngân hàng nên trả lại cho ông P và bà A, ông H không đầu tư, không chăm sóc nữa. Ông H không yêu cầu bồi thường về công chăm sóc cây cối và quản lý đất đối với thửa đất số A, tờ bản đồ số C, tọa lạc tại xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Tài sản trên đất là của ông P và bà A.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn theo quy định pháp luật; Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 177, Điều 179, Điều 180, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016 ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông P và bà A phải có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ gốc 571.450.621 đồng, tiền lãi trong hạn 166.298.077 đồng, lãi quá hạn 51.344.747 đồng, lãi chậm trả tiền lãi 19.204.458 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 21/01/2022. Kể từ ngày 22/01/2022 cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nợ gốc, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Ông P, bà A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất A, tờ bản đồ số C, giấy chứng nhận quyền dụng đất số BL116621, được UBND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/12/2012, đứng tên ông P và bà A (hợp đồng thế chấp tài sản số DLK20150590/HĐTC, ngày 29/9/2015) để thu hồi nợ.

Về chi phí xem xét thẩm định: Buộc bị đơn phải hoàn trả ngân hàng số tiền 2.000.000 đồng, nguyên đơn đã nộp trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.

Về lệ phí: Ngân hàng đã có đơn đề nghị Tòa án tiến hành thủ tục nhắn tin đối với ông P và bà A theo Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên buộc nguyên đơn phải chịu chi phí nhắn tin thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng số tiền 3.000.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn ông P và bà A có hộ khẩu thường trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã tiến hành xác minh, ông P và bà A đã bỏ đi khỏi địa phương và không còn sinh sống tại địa phương, đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho ông P và bà A theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp. Ngân hàng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thực hiện nhắn tin thông báo tìm kiếm ông P và bà A trên phương tiện thông tin đại chúng, nhắn tin trên Báo Công Lý của Tòa án nhân dân tối cao và trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam.

Nhưng ông P và bà A vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử vắng mặt ông P và bà A là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Ông P và bà A vắng mặt, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như đưa ra quan điểm để phản bác lại yêu cầu của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, ông P, bà A phải chịu hậu quả về việc không đưa ra được và không đưa ra đủ chứng cứ để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về nội dung vụ án: Ông P, bà A ký kết hợp đồng tín dụng vay vốn của ngân hàng và được giải ngân số tiền 650.000.000 đồng, mục đích đầu tư nông nghiệp, thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày giải ngân cho đến ngày 21/3/2023, lãi suất trong hạn 11.89%/năm và được điều chỉnh tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cho vay hỗ trợ cây cà phê trung hạn (+) biên độ 4.04%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả tiền lãi 10%, thời hạn trả lãi 06 tháng/lần, thời hạn trả nợ gốc: Ngày 21/3/2020, trả số tiền 162.500.000 đồng. Ngày 21/3/2021, trả số tiền 162.500.000 đồng. Ngày 21/3/2022, trả số tiền 162.500.000 đồng. Ngày 21/3/2023, trả số tiền 162.500.000 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay, ông P và bà A thỏa thuận duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số DLK20150590/HĐTC, ngày 29/9/2015, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của giấy chứng nhận quyền dụng đất số BL116621, được UBND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/12/2012, đứng tên ông P và bà A; thửa đất số 142, tờ bản đồ số 50; tọa lạc tại xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Hợp đồng thế chấp có công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm tại chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

Thực hiện hợp đồng: Ông P, bà A đã thanh toán số tiền nợ gốc 78.549.379 đồng, tiền lãi 49.734.921 đồng vào ngày 21/3/2020. Sau đó, ông P, bà A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán lãi và nợ theo hợp đồng tín dụng đã kí kết. Vì vậy ngân hàng khởi kiện để yêu cầu ông P và bà A thanh toán nợ cho ngân hàng là phù hợp.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nợ gốc: Theo hợp đồng tín dụng, ông P và bà A phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc ngày 21/3/2020, trả số tiền 162.500.000 đồng. Ngày 21/3/2021, trả số tiền 162.500.000 đồng. Tuy nhiên, khi đến hạn thanh toán nợ gốc, ông P và bà A thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng mà đã bỏ đi khỏi địa phương. Như vậy, ông P, bà A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ngân hàng làm đơn khởi kiện và yêu cầu ông P, bà A phải có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc còn lại với số tiền 571.450.621 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lãi suất trong hạn, quá hạn và lãi chậm trả tiền lãi: Theo hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn lãi suất trong hạn 11.89%/năm và được điều chỉ tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cho vay hỗ trợ cây cà phê trung hạn (+) biên độ 4.04%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả tiền lãi 10%. Các bên thỏa thuận lãi trong hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Thời hạn trả lãi 06 tháng/lần, khi đến hạn thanh toán lãi ông P, bà A không thực hiện nghĩa vụ trả lãi nên ngân hàng yêu cầu trả lãi là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể:

Tiền lãi trong hạn từ khi vay cho đến ngày 21/01/2022 là 216.027.593 đồng, ông P và bà A đã thanh toán được 49.729.516 đồng, còn nợ lại 166.298.077 đồng.

Từ ngày 21/3/2020, ông P, bà A thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ gốc nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn và tính lãi suất quá hạn. Đến ngày xét xử (21/1/2022) tiền lãi quá hạn 51.344.747 đồng.

Đối với số tiền lãi trong hạn, ông P và bà A chậm thanh toán nên tiền lãi chậm thanh toán là 19.204.458 đồng (tính đên ngày 21/01/2022)

Từ ngày 22/01/2022, tiếp tục thực hiện hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông P, bà A với ngân hàng để tính lãi suất phát sinh cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán nợ.

Tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay, giữa ngân hàng và ông P, bà A thỏa thuận tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp đã được công chứng, chứng thực, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại các tại các Điều 294, 298, 318 của Bộ luật dân sự năm 2015, là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó trường hợp ông P và bà A không hoặc thanh toán không đầy đủ nợ thì ngân hàng có quyền làm đơn yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp là phù hợp. Ngày 14/6/2021, Tòa án nhân dâ huyện Đắk Mil đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ: thửa đất số A, tờ bản đồ số C; tọa lạc tại xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, giấy chứng nhận quyền dụng đất số BL116621, được UBND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/12/2012, đứng tên ông P và bà A là phù hợp với bản đồ giải thửa và trên thực tế phù hợp, đúng vị trí. Yêu cầu xử lý tài sản nêu trên là phù hợp quy định tại Điều 323 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông H không yêu cầu bồi thường đến việc chăm sóc cây cối trên đất và quản lý đất đai, ngoài ra ông H cũng biết tài sản đang thế chấp ngân hàng nên trả lại rẫy và không canh tác, không quản lý rẫy. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Sau khi tiến hành xác minh tại địa phương, ông P, bà A đã bỏ đi khỏi địa phương và không còn sinh sống tại địa phương. Ngân hàng có đơn đề nghị Tòa án tiến hành thủ tục nhắn tin thông báo tìm kiếm ông P và bà A. Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã tiến hành thủ tục nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam và Báo Công Lý, chi phí nhắn tin 3.000.000 đồng. Trong quá trình làm việc và tại phiên tòa, ngân hàng yêu cầu ông P và bà A phải hoàn trả số tiền nêu trên, theo quy định tại khoản 2 Điều 180 của Bộ luật tố tụng quy định “Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng có thể được thực hiện nếu có yêu cầu của các đương sự khác. Trong trường hợp này, lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do đương sự có yêu cầu thông báo chịu”. Như vậy, ngân hàng là tổ chức làm đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm nên buộc nguyên đơn phải chịu số tiền 3.000.000 đồng chi phí nhắn tin.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông P và bà A phải hoàn trả cho ngân hàng số tiền 2.000.000 đồng, nguyên đơn đã nộp trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 177, Điều 179, Điều 180, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 294, Điều 323, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016 ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam.

2. Buộc ông P và bà A có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân tổng số tiền 808.297.903 đồng (tám trăm lẻ tám triệu hai trăm chín mươi bảy ngàn chín trăm lẻ ba đồng), trong đó nợ gốc là 571.450.621 đồng (năm trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi ngàn sáu trăm hai mươi mốt đồng); lãi trong hạn là 166.298.077 đồng (một trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm chín mươi tám ngàn không trăm bảy mươi bảy đồng), lãi quá hạn 51.344.747 đồng (năm mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi bốn ngàn bảy trăm bốn mươi bảy đồng), lãi chậm trả tiền lãi 19.204.458 đồng (mười chín triệu hai trăm lẻ bốn ngàn bốn trăm năm mươi tám đồng) ,tính đến ngày tính đến ngày 21/01/2021.

“Kể từ ngày 22/01/2022, ông P và bà A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”

3. Tài sản thế chấp:

3.1. Trường hợp ông P và bà A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trả nợ tiền gốc và tiền lãi thì Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, cụ thể: thửa đất số A, tờ bản đồ số C; tọa lạc tại, xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, giấy chứng nhận quyền dụng đất số BL116621, được UBND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/12/2012, đứng tên ông P và bà A (Hợp đồng thế chấp tài sản số DLK20150590/HĐTC, ngày 29/9/2015) để thu hồi nợ.

3.2. Trường hợp ông P và bà A thực hiện đầy đủ trả nợ tiền gốc và tiền lãi thì Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam có nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL116621, được UBND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/12/2012, đứng tên ông P và bà A đối với thửa đất số A, tờ bản đồ số C; tọa lạc tại, xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông(Hợp đồng thế chấp tài sản số DLK20150590/HĐTC, ngày 29/9/2015)

4. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng:

4.1. Ông P và bà A phải nộp 36.248.937 đồng (ba mươi sáu triệu hai trăm bốn mươi tám ngàn chín trăm ba mươi bảy đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp 16.205.000 đồng (Mười sáu triệu hai trăm lẻ năm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004867 ngày 14/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

4.2. Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Nguyên đơn phải chịu số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), nguyên đơn đã thực hiện xong.

4.3. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông P và bà A phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ