vanban.org

Bản án 05/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Kiến Tường, tỉnh Long An Tuyên án 03/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần TT phạm t i “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần TT 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ được tính từ ngày 15/12/2020. Về án phí: Căn cứ Điều 136 B luật tố tụng hình s ; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc h i quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần TT phạm t i “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? luật tố tụng hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/HSST
Ngày: 03-02-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KT, LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n V hanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phan văn Truyện

2/ Bà Nguy n Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Công – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã KT, LA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường tham gia phiên tòa: Ông Nguy n T n L c - iểm sát viên.

Trong ngày 03/02/2021, tại trụ sở T a án nhân dân thị xã KT, LA tiến hành xét xử, công khai sơ thẩm vụ án hình s thụ lý số 02/2021/HSST ngày 19/01/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2021, đối v i bị cáo:

Họ và tên: Trần TT, sinh năm 1992; Nơi sinh: Huyện M c H a, t nh Long An; Nơi đăng ký H TT: Ấp Bắc Chan 1, xã Tuyên Thạnh, thị xã KT, LA; Nghề nghiệp: Làm ru ng; Trình đ học v n: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân t c: inh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn Tài, sinh năm 1956 và bà Lê Thị Ngọc Thủy, sinh năm 1959; Anh chị em ru t: 04 người; Vợ: Nguy n Thị Bé Thùy, sinh năm 1999 (đã ly hôn); Con có 01 người, sinh năm 2018; Tiền án, tiền s : Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2020 đến nay c mặt tại phiên t a.

- Người ị hại:

Ông Nguy n ĐH, sinh năm 1992;

Địa ch : p Cái Sậy, xã Tuyên Thạnh, thị xã KT, LA. (vắng mặt)

Người giám hộ h ị hại: Bà Đ Thị Phượng, sinh năm 1973; Địa ch : p Cái Sậy, xã Tuyên Thạnh, thị xã KT, LA. (vắng mặt)

- Người ó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguy n Văn Vinh, sinh năm 1969; (vắng mặt)

Địa ch : p Cái Sậy, xã Tuyên Thạnh, thị xã KT, LA.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần TT, sinh năm 1992, h khẩu thường trú: p Bắc Chan 1, xã Tuyên Thạnh, thị xã KT, LA và Nguy n ĐH, sinh năm 1992, h khẩu thường trú: p Cái Sậy, xã Tuyên Thạnh, thị xã KT, LA là bạn bè của nhau. Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/12/2019 Thành điện thoại rủ Hồ xuống chợ Kiến Tường uống nư c, Hồ đồng ý và dùng xe môtô biển kiểm soát số 62K2-6313 của gia đình chở Thành xuống quán nư c vĩa hè trư c Tiệm vàng Hồng 2, thu c khu phố 1, phường 1, thị xã Kiến Tường ngồi uống nư c. Tại đây lúc khoảng 00 giờ 05 phút ngày 26/12/2019 Thành hỏi mượn xe môtô biển kiểm soát 62K2-6313 và điện thoại di đ ng Nokia XL của Hồ để đi mua thuốc uống, được Hồ đồng ý giao, sau khi nhận được tài sản của Hồ, Thành đi mua thuốc nhưng không được do các cửa tiệm đã đóng cửa. Lúc này Thành nảy sinh ý định chiếm đoạt xe môtô biển kiểm soát 62K2-6313 của Hồ đem cầm l y tiền tiêu xài nên m t mình điều khiển xe trên vào cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp qua Campuchia cầm cho m t người không rõ họ tên được 4.000.000 đồng rồi vào nhậu v i người quen tại Campuchia nhưng không nh ai, sau đó Thành đón xe honda ôm của người nam không rõ họ tên chở Thành về nhà ngủ và Thành nhờ người này đi đến đưa cho Hồ 150.000 đồng, Hồ đi đến nhà trọ Việt Thắng thu c phường 2, thị xã Kiến Tường ngủ đến sáng đi xe honda ôm về nhà biết được xe môtô bị Thành cầm bên Campuchia nên t đi chu c xe giá 6.000.000 đồng về báo Công an. Riêng chiếc điện thoại di đ ng của Hồ bị Thành làm r t m t.

Tang vật thu giữ: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave ZX, màu tím đen, biển kiểm soát: 62K2-6313. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kiến Tường đã trao trả xe môtô biển kiểm soát: 62K2-6313 cho chủ sở hữu xong.

Tang vật không thu giữ được: 01 điện thoại di đ ng hiệu Nokia XL, màu đen đã qua sử dụng, bị bể màn hình do Thành làm r t m t.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐ-ĐGTS ngày 21/02/2020 của H i đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình s thị xã iến Tường kết luận: Giá trị còn lại của xe môtô biển kiểm soát 62K2-6313 là 7.000.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐ-ĐGTS ngày 31/8/2020 của H i đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình s thị xã iến Tường kết luận: Giá trị còn lại của 01 điện thoại di đ ng Nokia XL đã qua sử dụng, bể màn hình là 100.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 1577/KLGĐ ngày 19/8/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu v c Thành phố Hồ Chí Minh kết luận Nguy n ĐH như sau: Về y học: Trư c, trong, sau khi xảy ra vụ án ngày 26/12/2019 cho đến hiện tại đối tượng bị tâm thần phân liệt thể không phân định, giai đoạn thuyên giảm không hoàn toàn (F20.34 - ICD10). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trư c, trong, sau khi xảy ra vụ án ngày 26/12/2019 cho đến hiện tại đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Đối v i bị cáo Trần TT sau khi bị khởi tố, c m đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo đi làm thuê nhiều nơi không có mặt tại địa phương nên ngày 16/9/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kiến Tường Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn, ra Lệnh bắt bị cáo để tạm giam nhưng không bắt được. Ngày 22/9/2020 Quyết định truy nã, đến ngày 15/12/2020 Thành đến đầu thú.

Về trách nhiệm dân s : Hiện bị cáo Trần TT đã thỏa thuận bồi thường tiền chu c xe cho Nguy n ĐH là 6.000.000 đồng xong (Biên nhận ngày 14/9/2020). Riêng chiếc điện thoại có giá trị không đáng kể nên Hồ không yêu cầu bồi thường.

Tại cáo trạng Số: 04/CT-VKSKT ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã iến Tường đã truy tố bị cáo Trần TT về t i “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 B luật Hình s 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát v n giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị tuyên bố bị cáo Trần TT phạm t i “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 B luật Hình s 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xem xét bị cáo c tình tiết giảm nhẹ: Người phạm t i t nguyện bồi thường thiệt hại; Phạm t i nhưng gây thiệt hại không l n; Phạm t i lần đầu và thu c trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, h, i, s, khoản 1, Điều 51 B luật hình s . Ngoài ra bị cáo Thành ra đầu thú, c nhân thân tốt chưa tiền án tiền s , đã hoàn thành nghĩa vụ quân s , c hoàn cảnh gia đình khó khăn c xác nhận địa phương, được bị hại làm đơn xin bãi nại quy định tại khoản 2 Điều 51 B luật hình s

Nhưng bị cáo Thành phải chịu tình tiết tăng nặng là: Phạm t i đối v i người bị hạn chế khả năng nhận thức quy định tại điểm k, hoản 1, Điều 52 B luật hình s

Đề nghị áp dụng: Điểm b, Khoản 1, Điều 175; Điểm b, h, i, s, hoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm k, hoản 1, Điều 52, Điều 38, Điều 50 B luật hình s ; Xử phạt bị cáo Trần TT từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam, ngày 15/12/2020.

Về vật chứng: Đối v i 01 xe môtô nhãn hiệu Honda ave X, màu tím đen, biển kiểm soát: 62 2-6313. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã iến Tường đã trao trả xe môtô biển kiểm soát: 62 2-6313 chủ sở hữu xong nên đề nghị không xem xét; Đối v i 01 điện thoại di đ ng hiệu Nokia XL, màu đen đã qua sử dụng, bị bể màn hình do Thành làm r t m t là tang vật không thu giữ được xét chiếc điện thoại c giá trị không đáng kể, người bị hại Hồ không yêu cầu bồi thường nên đề nghị H i đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân s : Hiện bị cáo Trần TT đã thỏa thuận bồi thường tiền chu c xe cho Nguy n ĐH là 6.000.000 đồng xong (Biên nhận ngày 1 /9/2020) nên đề nghị H i đồng xét xử không xem xét.

Đối v i hình phạt bổ sung: Xét th y, bị cáo Thành không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên đề nghị mi n hình phạt bổ sung đối v i bị cáo Thành.

Đối v i người cầm xe bên Campuchia và người chạy xe honda ôm mà Thành nhờ giao tiền cho Nguy n ĐH để thuê nhà trọ ngủ, nhưng không rõ lai lịch nên không đề cập xem xét trách nhiệm liên quan trong vụ án này.

Tại phiên t a bị cáo khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình đúng như cáo trang Viện iểm sát thị xã iến Tường đã truy tố về t i “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm b, Khoản 1, Điều 175 B luật Hình s .

Bị cáo Trần TT n i lời n i sau cùng, bị cáo ăn năn hồi cải, gửi lời xin l i đến bị hại cùng v i gia đình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN THẤY CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên t a, H i đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên t a hôm nay, lời khai của bị cáo phù hợp v i lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp v i n i dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố và lời khai của bị hại, lời khai người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu chứng cứ khác c trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Lúc khoảng 00 giờ 05 phút ngày 26/12/2019 tại quán nư c vĩa hè trư c Tiệm vàng Hồng 2, thu c khu phố 1, phường 1, thị xã Kiến Tường, trong lúc ngồi uống nư c thì bị cáo Trần TT hỏi mượn xe môtô biển kiểm soát 62K2-6313 có giá trị 7.000.000 đồng và điện thoại di đ ng Nokia XL có giá trị 100.000 đồng của người bị hại Nguy n ĐH để đi mua thuốc uống. Sau khi Thành nhận được tài sản của Hồ đi mua thuốc không được, lúc này Thành nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Hồ nên Thành m t mình điều khiển xe môtô của Hồ vào Campuchia cầm được 4.000.000 đồng tiêu xài cá nhân, riêng chiếc điện thoại di đ ng bị r t m t d n đến không có khả năng chu c tài sản trả lại nên Hồ trình báo Công an.

[2] Hành vi của bị cáo Trần TT là nguy hiểm cho xã h i, không những tr c tiếp xâm phạm đến an ninh trật t trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; Mặt khác, bị cáo Trần TT nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật c m và người đủ năng l c phải chịu trách nhiệm hình s về hành vi phạm t i của mình gây ra v i l i cố ý tr c tiếp nên cần c mức hình phạt tương xứng v i hành vi phạm t i của bị cáo, cần xem xét áp dụng hình phạt cách ly khỏi xã h i đối v i bị cáo m t thời gian m i c tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và ph ng ngừa chung cho xã h i.

[3] Như vậy, c đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Trần TT để yếu tố c u thành t i “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, Khoản 1, Điều 175 B luật Hình s . o đ , Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã iến Tường truy tố bị cáo là đúng người, đúng t i danh và điều khoản, không oan.

[4] Tuy nhiên, khi xem xét đến hình phạt đối v i bị cáo cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho bị cáo như sau: Về tình tiết giảm nhẹ của bị cáo gồm c : Người phạm t i t nguyện bồi thường thiệt hại; Phạm t i nhưng gây thiệt hại không l n; Phạm t i lần đầu và thu c trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại Điểm b, h, i, s, hoản 1, Điều 51 B luật hình s . Ngoài ra bị cáo Thành ra đầu thú, c nhân thân tốt chưa tiền án tiền s , đã hoàn thành nghĩa vụ quân s , c hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận địa phương, được bị hại làm đơn xin bãi nại quy định tại hoản 2, Điều 51 B luật hình s ; Về tình tiết tăng nặng của bị cáo là: Phạm t i đối v i người bị hạn chế khả năng nhận thức quy định tại Điểm k, hoản 1, Điều 52 B luật hình s

[5] Đối v i đối tượng là người cầm xe bên Campuchia và người chạy xe honda ôm mà bị cáo Thành nhờ giao tiền cho Nguy n ĐH để thuê nhà trọ ngủ, nhưng không rõ lai lịch nên không đề cập xem xét trách nhiệm liên quan trong vụ án này là phù hợp.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đối v i 01 xe môtô nhãn hiệu Honda ave ZX, màu tím đen, biển kiểm soát: 62 2-6313. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã iến Tường đã trao trả xe môtô biển kiểm soát: 62 2-6313 chủ sở hữu xong (theo biên bản về việc trả lại đồ vật tài liệu ngày 22/02/2020) là phù hợp nên H i đồng xét xử không xem xét; Đối v i 01 điện thoại di đ ng hiệu Nokia XL, màu đen đã qua sử dụng, bị bể màn hình do Thành làm r t m t là tang vật không thu giữ được xét chiếc điện thoại c giá trị không đáng kể, người bị hại Hồ không yêu cầu bồi thường nên H i đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân s : Hiện bị cáo Trần TT đã thỏa thuận bồi thường tiền chu c xe cho Nguy n ĐH là 6.000.000 đồng xong (theo biên bản thỏa thuận ngày 26/6/2020 và biên nhận ngày 1 /9/2020) và bị hại c ng như người giám h không c yêu cầu gì thêm nên H i đồng xét xử không xem xét.

8 Đối v i hình phạt bổ sung: Xét th y, bị cáo Thành không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên mi n hình phạt bổ sung đối v i bị cáo Thành là phù hợp.

[9] Về án phí: Bu c bị cáo Trần TT phải chịu tiền án phí hình s sơ thẩm theo quy định pháp luật.

10 Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Căn cứ và hồ sơ vụ án, di n biến tại phiên t a Điều tra viên và iểm sát viên đã tiến hành l y lời khai đúng theo quy định của pháp luật, không c ép cung, nhục hình hay m m cung và ra các quyết định tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm b, Khoản 1, Điều 175 B luật hình s ;

Tuyên bố: Bị cáo Trần TT phạm t i “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điểm b, h, i, s, hoản 1 và hoản 2, Điều 51; Điểm k, hoản 1, Điều 52 B luật hình s ;

Xử phạt bị cáo Trần TT 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ được tính từ ngày 15/12/2020.

Căn cứ Điều 329 B luật tố tụng hình s ; Tiếp tục tạm giam bị cáo 5 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 B luật tố tụng hình s ; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc h i quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án; Bu c bị cáo Trần TT phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình s sơ thẩm sung ngân sách Nhà nư c.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 B luật tố tụng hình s ; bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người giám h của bị hại, người c quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân s ; Thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s ./. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Truyện Nguyễn Thị Hiền

Nguyễn Vũ Khanh

TM. HỘI ĐỒNG

XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ

Khanh

Cỡ chữ