vanban.org

Bản án 05/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Kiến Tường, tỉnh Long An Tuyên án 03/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thiện T phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thiện T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ được tính từ ngày 15/12/2020. ề án phí: Căn cứ Điều 13 Bộ luật tố tụng hình s ; Điều 23 của Nghị quyết số 32 /201 /UBT QH14 ngày 30 tháng 12 năm 201 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran thien thanh - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thiện T phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình s; Điều 13 Bộ luật tố tụng hình s; Điều 175 Bộ luật hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KT
TỈNH LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/HSST
Ngày: 03-02-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KT, TỈNH LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phan văn Truyện

2/ Bà Nguy n Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương ăn Công – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã KT tham gia phiên tòa: Ông Nguy n T n L c - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03/02/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã KT, tỉnh LA tiến hành xét xử, công khai sơ thẩm vụ án hình s thụ lý số 02/2021/HSST ngày 19/01/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2021, đối v i bị cáo:

Họ và tên: Trần Thiện T, sinh năm 1992; Nơi sinh: Huyện MH, tỉnh LA; Nơi đăng ký HKTT: Ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh L; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học v n: 10/12; Quốc tịch: iệt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T, sinh năm 195 và bà Lê Thị Ngọc Th, sinh năm 1959; Anh chị em ruột: 04 người; Vợ: Nguy n Thị Bé T, sinh năm 1999 (đã ly hôn); Con có 01 người, sinh năm 2018; Tiền án, tiền s : Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2020 đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Ông Nguy n Đông H, sinh năm 1992;

Địa chỉ: p C, xã T, thị xã K, tỉnh L. (vắng mặt)

Người giám hộ cho bị hại: Bà Đ Thị Ph, sinh năm 1973; Địa chỉ: p C, xã T, thị xã K, tỉnh L. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguy n ăn , sinh năm 19 9; (vắng mặt)

Địa chỉ: p C, xã T, thị xã K, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thiện T, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: p B, xã T, thị xã K, tỉnh L và Nguy n Đông H, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: p C, xã T, thị xã K, tỉnh L là bạn bè của nhau. Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/12/2019 Thành điện thoại rủ H xuống chợ K uống nư c, H đồng ý và dùng xe môtô biển kiểm soát số 62K2-6313 của gia đình chở T xuống quán nư c vĩa hè trư c Tiệm vàng Hồng 2, thuộc khu phố 1, phường 1, thị xã K ngồi uống nư c. Tại đây lúc khoảng 00 giờ 05 phút ngày 26/12/2019 T hỏi mượn xe môtô biển kiểm soát 62K2-6313 và điện thoại di động Nokia XL của H để đi mua thuốc uống, được H đồng ý giao, sau khi nhận được tài sản của H, T đi mua thuốc nhưng không được do các cửa tiệm đã đóng cửa. Lúc này T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe môtô biển kiểm soát 62K2-6313 của H đem cầm l y tiền tiêu xài nên một mình điều khiển xe trên vào cửa khẩu quốc tế B qua Campuchia cầm cho một người không rõ họ tên được 4.000.000 đồng rồi vào nhậu v i người quen tại Campuchia nhưng không nh ai, sau đó T đón xe honda ôm của người nam không rõ họ tên chở T về nhà ngủ và T nhờ người này đi đến đưa cho 150.000 đồng, H đi đến nhà trọ Việt Thắng thuộc phường 2, thị xã K ngủ đến sáng đi xe honda ôm về nhà biết được xe môtô bị T cầm bên Campuchia nên t đi chuộc xe giá 6.000.000 đồng về báo Công an. Riêng chiếc điện thoại di động của bị T làm r t m t.

Tang vật thu giữ: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave ZX, màu tím đen, biển kiểm soát: 62K2-6313. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kiến Tường đã trao trả xe môtô biển kiểm soát: 62K2-6313 cho chủ sở hữu xong.

Tang vật không thu giữ được: 01 điện thoại di động hiệu Nokia XL, màu đen đã qua sử dụng, bị bể màn hình do T làm r t m t.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐ-ĐGTS ngày 21/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình s thị xã K kết luận: Giá trị còn lại của xe môtô biển kiểm soát 2K2-6313 là 7.000.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐ-ĐGTS ngày 31/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình s thị xã K kết luận: Giá trị còn lại của 01 điện thoại di động Nokia XL đã qua sử dụng, bể màn hình là 100.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 1577/KLGĐ ngày 19/8/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu v c Thành phố Hồ Chí Minh kết luận Nguy n Đông H như sau: Về y học: Trư c, trong, sau khi xảy ra vụ án ngày 26/12/2019 cho đến hiện tại đối tượng bị tâm thần phân liệt thể không phân định, giai đoạn thuyên giảm không hoàn toàn (F20.34 - ICD10). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trư c, trong, sau khi xảy ra vụ án ngày 26/12/2019 cho đến hiện tại đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Đối v i bị cáo Trần Thiện T sau khi bị khởi tố, c m đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo đi làm thuê nhiều nơi không có mặt tại địa phương nên ngày 16/9/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn, ra Lệnh bắt bị cáo để tạm giam nhưng không bắt được. Ngày 22/9/2020 Quyết định truy nã, đến ngày 15/12/2020 T đến đầu thú.

ề trách nhiệm dân s : Hiện bị cáo Trần Thiện T đã thỏa thuận bồi thường tiền chuộc xe cho Nguy n Đông Hồ là 6.000.000 đồng xong (Biên nhận ngày 14/9/2020). Riêng chiếc điện thoại có giá trị không đáng kể nên H không yêu cầu bồi thường.

Tại cáo trạng Số: 04/CT-VKSKT ngày 18 tháng 01 năm 2021 của iện kiểm sát nhân dân thị xã K đã truy tố bị cáo Trần Thiện T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình s 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện iện kiểm sát v n giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Thiện T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình s 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xem xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội t nguyện bồi thường thiệt hại; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không l n; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; T khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, h, i, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình s . Ngoài ra bị cáo Thành ra đầu thú, có nhân thân tốt chưa tiền án tiền s , đã hoàn thành nghĩa vụ quân s , có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận địa phương, được bị hại làm đơn xin bãi nại quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình s

Nhưng bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng là: Phạm tội đối v i người bị hạn chế khả năng nhận thức quy định tại điểm k, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình s

Đề nghị áp dụng: Điểm b, Khoản 1, Điều 175; Điểm b, h, i, s, Khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm k, Khoản 1, Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình s ; Xử phạt bị cáo Trần Thiện T từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam, ngày 15/12/2020.

ề vật chứng: Đối v i 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave ZX, màu tím đen, biển kiểm soát: 2K2- 313. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã trao trả xe môtô biển kiểm soát: 2K2- 313 chủ sở hữu xong nên đề nghị không xem xét; Đối v i 01 điện thoại di động hiệu Nokia XL, màu đen đã qua sử dụng, bị bể màn hình do T làm r t m t là tang vật không thu giữ được xét chiếc điện thoại có giá trị không đáng kể, người bị hại H không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

ề trách nhiệm dân s : Hiện bị cáo Trần Thiện T đã thỏa thuận bồi thường tiền chuộc xe cho Nguy n Đông H là 6.000.000 đồng xong (Biên nhận ngày 14/9/2020) nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối v i hình phạt bổ sung: Xét th y, bị cáo T không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên đề nghị mi n hình phạt bổ sung đối v i bị cáo T.

Đối v i người cầm xe bên Campuchia và người chạy xe honda ôm mà T nhờ giao tiền cho Nguy n Đông H để thuê nhà trọ ngủ, nhưng không rõ lai lịch nên không đề cập xem xét trách nhiệm liên quan trong vụ án này.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trang iện Kiểm sát thị xã K đã truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm b, Khoản 1, Điều 175 Bộ luật Hình s .

Bị cáo Trần Thiện T nói lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hồi cải, gửi lời xin l i đến bị hại cùng v i gia đình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN THẤY CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo phù hợp v i lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp v i nội dung cáo trạng mà iện kiểm sát truy tố và lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Lúc khoảng 00 giờ 05 phút ngày 26/12/2019 tại quán nư c vĩa hè trư c Tiệm vàng Hồng 2, thuộc khu phố 1, phường 1, thị xã K, trong lúc ngồi uống nư c thì bị cáo Trần Thiện T hỏi mượn xe môtô biển kiểm soát 62K2-6313 có giá trị 7.000.000 đồng và điện thoại di động Nokia XL có giá trị 100.000 đồng của người bị hại Nguy n Đông H để đi mua thuốc uống. Sau khi T nhận được tài sản của H đi mua thuốc không được, lúc này T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của H nên T một mình điều khiển xe môtô của H vào Campuchia cầm được 4.000.000 đồng tiêu xài cá nhân, riêng chiếc điện thoại di động bị r t m t d n đến không có khả năng chuộc tài sản trả lại nên Hồ trình báo Công an.

[2] Hành vi của bị cáo Trần Thiện Tlà nguy hiểm cho xã hội, không những tr c tiếp xâm phạm đến an ninh trật t trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; Mặt khác, bị cáo Trần Thiện T nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật c m và người đủ năng l c phải chịu trách nhiệm hình s về hành vi phạm tội của mình gây ra v i l i cố ý tr c tiếp nên cần có mức hình phạt tương xứng v i hành vi phạm tội của bị cáo, cần xem xét áp dụng hình phạt cách ly khỏi xã hội đối v i bị cáo một thời gian m i có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Như vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Trần Thiện T để yếu tố c u thành tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, Khoản 1, Điều 175 Bộ luật Hình s . o đó, Cáo trạng của iện kiểm sát nhân dân thị xã K truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội danh và điều khoản, không oan.

[4] Tuy nhiên, khi xem xét đến hình phạt đối v i bị cáo cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho bị cáo như sau: ề tình tiết giảm nhẹ của bị cáo gồm có: Người phạm tội t nguyện bồi thường thiệt hại; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không l n; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; T khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại Điểm b, h, i, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình s . Ngoài ra bị cáo T ra đầu thú, có nhân thân tốt chưa tiền án tiền s , đã hoàn thành nghĩa vụ quân s , có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận địa phương, được bị hại làm đơn xin bãi nại quy định tại Khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình s ; ề tình tiết tăng nặng của bị cáo là: Phạm tội đối v i người bị hạn chế khả năng nhận thức quy định tại Điểm k, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình s

[5] Đối v i đối tượng là người cầm xe bên Campuchia và người chạy xe honda ôm mà bị cáo T nhờ giao tiền cho Nguy n Đông H để thuê nhà trọ ngủ, nhưng không rõ lai lịch nên không đề cập xem xét trách nhiệm liên quan trong vụ án này là phù hợp.

[6] ề vật chứng của vụ án: Đối v i 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave ZX, màu tím đen, biển kiểm soát: 2K2- 313. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã trao trả xe môtô biển kiểm soát: 2K2- 313 chủ sở hữu xong (theo biên bản về việc trả lại đồ vật tài liệu ngày 22/02/2020) là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét; Đối v i 01 điện thoại di động hiệu Nokia XL, màu đen đã qua sử dụng, bị bể màn hình do T làm r t m t là tang vật không thu giữ được xét chiếc điện thoại có giá trị không đáng kể, người bị hại Hkhông yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[7] ề trách nhiệm dân s : Hiện bị cáo Trần Thiện T đã thỏa thuận bồi thường tiền chuộc xe cho Nguy n Đông H là 6.000.000 đồng xong (theo biên bản thỏa thuận ngày 2 / /2020 và biên nhận ngày 14/9/2020) và bị hại c ng như người giám hộ không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

8 Đối v i hình phạt bổ sung: Xét th y, bị cáo T không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên mi n hình phạt bổ sung đối v i bị cáo T là phù hợp.

[9] ề án phí: Buộc bị cáo Trần Thiện T phải chịu tiền án phí hình s sơ thẩm theo quy định pháp luật.

10 ề tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Căn cứ và hồ sơ vụ án, di n biến tại phiên tòa Điều tra viên và Kiểm sát viên đã tiến hành l y lời khai đúng theo quy định của pháp luật, không có ép cung, nhục hình hay m m cung và ra các quyết định tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm b, Khoản 1, Điều 175 Bộ luật hình s ;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thiện T phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điểm b, h, i, s, Khoản 1 và Khoản 2, Điều 51; Điểm k, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình s ;

Xử phạt bị cáo Trần Thiện T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ được tính từ ngày 15/12/2020.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình s ; Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.

ề án phí: Căn cứ Điều 13 Bộ luật tố tụng hình s ; Điều 23 của Nghị quyết số 32 /201 /UBT QH14 ngày 30 tháng 12 năm 201 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Trần Thiện T phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình s sơ thẩm sung ngân sách Nhà nư c.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình s ; bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người giám hộ của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều , 7 và 9 Luật thi hành án dân s ; Thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s ./.

Cỡ chữ