vanban.org

Bản án 05/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 05/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì có dấu niêm phong số 619/2020/ C09 của hòng K thuật hình sự Công an thành phố Hải hòng, 01 ví da màu nâu và 01 túi da màu đen (Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29-01-2021).

Trả lại bị cáo căn cước công dân mang tên HVT, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu O O (Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29-01-2021) và số tiền 820.000 đồng (Biên lai thu tiền s : AA/2 1 /7623 ng y 29-01-2021 của Chi cục Thi h nh án dân sự quận Hồng B ng). Bị cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HVT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì có dấu niêm phong số 619/2020/ C09 của hòng K thuật hình sự Công an thành phố Hải hòng, 01 ví da màu nâu và 01 túi da màu đen (Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29-01-2021).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
THÀNHPHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/HS-ST
Ngày 05-02-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Hải

Ông Nguyễn Minh Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Vân - Thư ký Toà án của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải hòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải hòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2021/TLST-HS ngày 15-01-2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 25-01-2021, đối với bị cáo:

HVT, sinh ngày 08-5-1989, tại Hải hòng; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, thành phố Hải hòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và bà E, chưa có vợ, con; tiền án: Có 01 tiền án, Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2011/HSST ngày 17-3-2011 của Tòa án nhân dân huyện Thu Nguyên, thành phố Hải hòng xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản; nhân thân: Có 01 tiền án đã được xóa án tích, Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2009/HSST ngày 07-8-2009 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải hòng xử phạt 12 tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị tạm giữ từ ngày 25-9-2020, bị tạm giam từ ngày 01-10-2020; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông NCK; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 24-9-2020, HVT điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 16N6-4390 đi đến khu vực đường tàu F, quận G, thành phố Hải Phòng, gặp và hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá” của một người đàn ông tên H (chưa rõ lai lịch) được một túi nilon có kích thước 2,0 x 2,7 cm, bên trong chứa ma tuý. HVT cất vào túi ngực áo phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, HVT bỏ túi ma tuý mua được vào trong ví da màu nâu, cho vào túi da màu đen, đeo trên người và điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 16N6-4390 đi đến ngân hàng chuyển tiền. Khi đến khu vực Số 24 I, phường J, quận K, thành phố Hải hòng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 619/KLGĐ-MT ngày 26-9-2020 của hòng K thuật hình sự Công an thành phố Hải hòng, kết luận: “Mẫu tinh th g i giám nh l ma tuý, c h i l ng , gam, l lo i: Methamphetamine”.

Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKSHB ngày 14-01-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải hòng truy tố bị cáo HVT về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi như nội dung Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt: “Tái phạm nguy hiểm” và xem xét quy định tại Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy lượng ma túy và toàn bộ vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 619/2020/ C09 của cơ quan giám định, 01 ví da màu nâu và 01 túi da màu đen. Trả lại bị cáo căn cước công dân mang tên HVT, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu O O và số tiền 820.000 đồng. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Việc nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Quán Toan lập hồi 16 giờ 30 phút ngày 24-9-2020, bản Kết luận giám định số 619/KLGĐ-MT ngày 26-9-2020 của hòng K thuật hình sự Công an thành phố Hải hòng và vật chứng đã thu giữ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi cất giữ 0,54 gam Methamphetamine trong chiếc ví da màu nâu mang trên người với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2011/HSST ngày 17-3-2011 của Tòa án nhân dân huyện Thu Nguyên xác định bị cáo tái phạm, bản án này chưa được xóa án tích. Bởi vậy, lần này bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đảm bảo đấu tranh, phòng, chống tội phạm.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích và 01 tiền án chưa được xóa án tích như nêu trên, nên bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, không chứng minh được bị cáo có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng đang tạm giữ:

Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao bì có dấu niêm phong số 619/2020/ C09 của hòng K thuật hình sự, Công an thành phố Hải hòng, đây là loại ma túy Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 ví da màu nâu và 01 túi da màu đen là tài sản của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, bị cáo không nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với căn cước công dân mang tên HVT, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu O O và số tiền 820.000 đồng là giấy tờ nhân thân và tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, bị cáo đề nghị nhận lại các giấy tờ, tài sản này. Vì vậy, trả lại bị cáo.

Đối với chiếc xe môtô Biển kiểm soát 16N6-4390 Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định là tài sản của ông D. Tại giai đoạn điều tra, Công an quận Hồng Bàng đã trả lại chiếc xe môtô trên cùng giấy đăng ký xe cho ông D.

Đối với người đàn ông tên H bán ma túy cho HVT hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: HVT 06 (sáu) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25-9-2020.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xử: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì có dấu niêm phong số 619/2020/ C09 của hòng K thuật hình sự Công an thành phố Hải hòng, 01 ví da màu nâu và 01 túi da màu đen (Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29-01-2021).

Trả lại bị cáo căn cước công dân mang tên HVT, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu O O (Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29-01-2021) và số tiền 820.000 đồng (Biên lai thu tiền s : AA/2 1 /7623 ng y 29-01-2021 của Chi cục Thi h nh án dân sự quận Hồng B ng).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết của UBTV Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ