vanban.org

Bản án 05/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 04/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T(Ba N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T(Ba N) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 26/11/2020. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584; 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Co ý - phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ (điều 107 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T(Ba N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG P
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/HS-ST.
Ngày: 04 – 3– 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG P, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Quyết Chiến.

Ông Trà Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Hà Quang Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành T(Ba N); sinh ngày 20/11/2002; nơi sinh: Tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Ph T 2, xã Song Ph, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Nguyễn Thị Thơ, sinh năm 1972; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/10/2020 đến ngày 26/11/2020 bị cáo bị bắt tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Trương Văn Nghiệp, sinh năm 1958; địa chỉ: Ấp Ph T 2, xã Song Ph, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lư Thị Thanh, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp Ph T 2, xã Song Ph, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác (Người làm chứng):

- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp Ph T 2, xã Song Ph, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp Ph T 2, xã Song Ph, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt)

- Ông Kim Sầm N (Ba Miên), sinh năm 1961; địa chỉ: Ấp Ph T 2, xã Song Ph, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị T (Beo), sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp Ph T 2, xã Song Ph, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 07/8/2020, ông Nghiệp đến nhà ông Nguyễn Văn C để uống bia cùng với ông C, Nguyễn Văn T và Kim Sầm N (tên gọi khác là Ba Miên). Cả 04 người cùng uống bia tại hàng ba nhà ông C.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, ông N (Ba Miên) say và ngủ gục nên ông Nghiệp dùng tay kéo chân ông N để kêu ông N dậy. Cùng thời điểm này, bị cáo đang trên đường đi C chuyện, bị cáo có đem theo 01 cây dao (có cán nhựa màu vàng dài 10,5 cm, trên cán dao có chữ KIWI, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, loại một lưỡi sắc, mũi dao hình cung, lưỡi dao dài 11cm, trên lưỡi dao có chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAND) và để dao ở lưng quần bên phải. Bị cáo đi ngang cổng nhà ông C thì thấy ông Nghiệp đang kéo chân N nên bị cáo đi đến chỗ ông Nghiệp và nói với Nghiệp là sao chơi kỳ vậy thì ông Nghiệp nói lại với bị cáo là “con không cha, tao không nói chuyện với mày”, nghe vậy bị cáo bực tức và lấy cây dao ra cầm trên tay phải đâm trúng vào vùng đầu phía sau vành tai trái (vùng chẩm trái) của ông Nghiệp, lúc này ông Nghiệp ngã trên hàng ba thì bị cáo tiếp tục cầm dao đâm trúng phần phía trên bên ngoài cánh tay trái và đâm trúng vùng bụng bên trái của ông Nghiệp, lúc này bị cáo thấy lưỡi dao bị cong nên bị cáo vứt bỏ cây dao xuống hàng ba và tiếp tục lấy 03 vỏ chai bia bằng thủy tinh (02 vỏ chai bia hiệu SAGOTA và 01 vỏ chai bia hiệu BECK’S) đánh 03 cái vào vùng đầu bên trái của Nghiệp làm cho 03 vỏ chai bia vỡ thành nhiều mảnh, sau đó bị cáo được Nguyễn Văn T can ra ngăn ngoài cổng, bị cáo tiếp tục chạy lại chỗ ông Nghiệp và dùng tay phải đánh trúng mắt phải của ông Nghiệp, sau đó bị cáo được anh Lý Thanh Phong can ngăn ra và bị cáo bỏ đi về nhà, còn ông Nghiệp được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng từ ngày 07/8/2020 đến ngày 10/8/2020. Sau khi xuất viện thì ngày 24/8/2020 ông Trương Văn Nghiệp có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo.

Tại bản kết luận giám định thương tích số 275/TgT-PY ngày 18/9/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng (bút lục 75-77) kết luận về thương tích của ông Trương Văn Nghiệp như sau:

- Sẹo ngang vùng đỉnh trái, kích thước: 03cm x 0,3cm, sẹo bờ nham nhở, tỷ lệ 02%.

- Sẹo không liên tục vùng chẩm trái, kích thước 02cm x 0,2cm, sẹo bờ nham nhở, tỷ lệ 01%.

- Sẹo xuôi sau vành tai trái (vùng chẩm trái), kích thước 03cm x 0,3cm, sẹo bờ sắc gọn, tỷ lệ 02%.

- 03 sẹo sây sát da gây rối loạn sắc tố da ở 1/3 trên ngoài cánh tay trái, kích thước: 1,2cm x 0,2cm; 1,3cm x 0,2cm và 01cm x 0,1cm, tỷ lệ 1,5%.

- Sẹo sây sát da gây rối loạn sắc tố da vùng bụng trái ngang rốn, kích thước 01cm x 0,2cm, tỷ lệ 01%.

- Sẹo sây sát da gây rối loạn sắc tố da vùng lưng trái, kích thước 09cm x 0,1cm, tỷ lệ 01%.

- Sây sát da vùng trán và bầm mắt phải, đã được điều trị không còn di chứng tổn thương. Không có tỷ lệ phần trăm.

- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 08%.

- Tổn thương sau vành tai trái, 1/3 trên ngoài cánh tay trái, vùng bụng trái do vật sắc gây nên.

- Tổn thương vùng đỉnh trái, vùng chẩm trái, vùng lưng trái do vật có cạnh gây nên.

- Tổn thương vùng đỉnh trái, chẩm trái, sau vành tai trái, vùng bụng trái, vùng lưng trái là vùng nguy hiểm đến tính mạng.

Tại cáo trạng số: 03/CT-VKS-LP ngày 06/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền C tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; khoản 1 Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 04 tháng đến 09 tháng tù; Căn cứ vào các Điều 584; 590 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền là 8.682.349 đông;Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2015.

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) cây dao có cán nhựa màu vàng dài 10,5 cm, trên cán dao có chữ KIWI, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, loại một lưỡi sắc, mũi dao hình cung, lưỡi dao bị cong đo được chiều dài 11cm, trên lưỡi dao có chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAND.

- 02 (hai) mảnh vỡ vở chai bia bằng thủy tinh màu xanh có chữ BECK’S và nhiều mảnh vỡ vỏ chai bia bằng thủy tinh màu nâu đỏ có chữ SAGOTA.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; kết luận giám định thương tích số 275/TgT-PY ngày 18/9/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng (bút lục 75-77) kết luận về thương tích của Trương Văn Nghiệp; bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền là 8.682.349 đồng. Tại lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại 8.682.349 đồng và xin giải nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt bà Lư Thị Thanh không yêu cầu gì trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Long Phú, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lư Thị Thanh; người làm chứng ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn C, bà Kim Sầm N (Ba Miên). Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292, 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai hành vi phạm tội của mình và cho rằng ngày 07/8/2020 do xảy ra mâu thuẩn với nhau trong giao tiếp nên bị cáo đã có hành vi cầm 01 cây dao có cán nhựa màu vàng dài 10,5 cm, trên cán dao có chữ KIWI, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, loại một lưỡi sắc, mũi dao hình cung, lưỡi dao dài 11cm, trên lưỡi dao có chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAND (là hung khí nguy hiểm) đâm trúng 1/3 trên ngoài cánh tay trái, trúng vùng bụng trái và dùng 03 vỏ chai bia bằng thủy tinh (là hung khí nguy hiểm) đánh trúng vùng đầu bên trái của bị hại Trương Văn Nghiệp và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo được Viện kiểm sát truy tố tại bản cáo trạng là đúng cụ thể gày 07/8/2020 do xảy ra mâu thuẩn với nhau trong giao tiếp nên bị cáo đã có hành vi cầm 01 cây dao có cán nhựa màu vàng dài 10,5 cm, trên cán dao có chữ KIWI, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, loại một lưỡi sắc, mũi dao hình cung, lưỡi dao dài 11cm, trên lưỡi dao có chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAND (là hung khí nguy hiểm) đâm trúng trúng vào vùng đầu phía sau vành tai trái (vùng chẩm trái), trúng 1/3 trên ngoài cánh tay trái, trúng vùng bụng trái và dùng 03 vỏ chai bia bằng thủy tinh (là hung khí nguy hiểm) đánh trúng vùng đầu bên trái của bị hại Trương Văn Nghiệp gây thương tích với tổng tỷ lệ là 08% . Xét thấy, tại bản kết luận giám định thương tích số 275/TgT-PY ngày 18/9/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng kết luận của ông Trương Văn Nghiệp như sau:

- Sẹo ngang vùng đỉnh trái, kích thước: 03cm x 0,3cm, sẹo bờ nham nhở, tỷ lệ 02%.

- Sẹo không liên tục vùng chẩm trái, kích thước 02cm x 0,2cm, sẹo bờ nham nhở, tỷ lệ 01%.

- Sẹo xuôi sau vành tai trái (vùng chẩm trái), kích thước 03cm x 0,3cm, sẹo bờ sắc gọn, tỷ lệ 02%.

- 03 sẹo sây sát da gây rối loạn sắc tố da ở 1/3 trên ngoài cánh tay trái, kích thước: 1,2cm x 0,2cm; 1,3cm x 0,2cm và 01cm x 0,1cm, tỷ lệ 1,5%.

- Sẹo sây sát da gây rối loạn sắc tố da vùng bụng trái ngang rốn, kích thước 01cm x 0,2cm, tỷ lệ 01%.

- Sẹo sây sát da gây rối loạn sắc tố da vùng lưng trái, kích thước 09cm x 0,1cm, tỷ lệ 01%.

- Sây sát da vùng trán và bầm mắt phải, đã được điều trị không còn di chứng tổn thương. Không có tỷ lệ phần trăm.

- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 08%.

- Tổn thương sau vành tai trái, 1/3 trên ngoài cánh tay trái, vùng bụng trái do vật sắc gây nên.

- Tổn thương vùng đỉnh trái, vùng chẩm trái, vùng lưng trái do vật có cạnh gây nên.

- Tổn thương vùng đỉnh trái, chẩm trái, sau vành tai trái, vùng bụng trái, vùng lưng trái là vùng nguy hiểm đến tính mạng.

Bên cạnh đó, tại biên bản ghi lời khai ngày 24/8/2020 (bút lục 09) bị cáo khai “Tôi lấy một cây dao thái lan cán vàng cầm trên tay rồi đi qua gặp ông sáu nghiệp, tôi dùng dao đâm ông Sáu Nghiệp trúng vào vùng đầu 1 (một) cái” và bị cáo thừa nhận thương tích 08% của ông Nghiệp do một mình bị cáo gây ra, bị cáo thừa nhận hành vi thể hiện trong bản cáo trạng là đúng, bị cáo đồng ý và phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại, hiện trường vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để Hội đồng xác định: Ngày 07/8/2020 do xảy ra mâu thuẩn với nhau trong giao tiếp nên bị cáo đã có hành vi cầm 01 cây dao có cán nhựa màu vàng dài 10,5 cm, trên cán dao có chữ KIWI, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, loại một lưỡi sắc, mũi dao hình cung, lưỡi dao dài 11cm, trên lưỡi dao có chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAND (là hung khí nguy hiểm) đâm trúng vào vùng đầu phía sau vành tai trái (vùng chẩm trái), trúng 1/3 trên ngoài cánh tay trái, trúng vùng bụng trái và dùng 03 vỏ chai bia bằng thủy tinh (là hung khí nguy hiểm) đánh trúng vùng đầu bên trái của bị hại Trương Văn Nghiệp gây thương tích với tổng tỷ lệ là 08% (tám phần trăm), bị hại Trương Văn Nghiệp có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Thành T(Ba N) và hành vi mà bị cáo đã thực hiện phạm vào Tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, cáo trạng số: 03/CT-VKS-LP ngày 06/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có năng lực chịu TNHS, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thực hiện lỗi cố ý vì giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì, nhưng bị cáo dùng dao gây thương tích cho bị hại là 08%. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, mà sức khỏe là vốn quý của con người, có sức khỏe thì con người mới làm ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân, giúp ích cho gia đình và xã hội. Do đó sức khỏe và tính mạng của mỗi con người luôn được pháp luật bảo vệ và nghiêm trị bất cứ ai có hành vi xâm phạm đến nó một cách trái pháp luật; đồng thời hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Cho nên, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo có thời gian tâm đắc sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành C dân tốt có ích cho xã hội, góp phần phòng chống tội phạm chung.

Để có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nên Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại (cụ thể bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường 500.000 đồng), bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ. Mặt khác, khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người dưới 18 tuổi (17 tuổi 08 tháng 17 ngày) nên bị cáo được áp dụng Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền C lao động, tiền C người nuôi bệnh, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 8.682.349 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền trên nên căn cứ vào các Điều 584; 590 Bộ luật dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 8.682.349 đồng là có căn cứ. Tiếp tục giao cho chi cục thi hành án quản lý số tiền 500.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra C an huyện Long P đã tạm giữ:

- 01 (một) cây dao có cán nhựa màu vàng dài 10,5 cm, trên cán dao có chữ KIWI, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, loại một lưỡi sắc, mũi dao hình cung, lưỡi dao bị cong đo được chiều dài 11cm, trên lưỡi dao có chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAND. Quá trình điều tra xác định cây dao là của bị cáo T cầm đâm bị hại Nghiệp gây thương tích.

- 02 (hai) mảnh vỡ vở chai bia bằng thủy tinh màu xanh có chữ BECK’S và nhiều mảnh vỡ vỏ chai bia bằng thủy tinh màu nâu đỏ có chữ SAGOTA. Quá trình điều tra xác định do bị cáo T dùng đánh bị hại và đây là tài sản là của Lư Thị Thanh, tuy nhiên Thanh không yêu cầu định giá và không yêu cầu bồi thường.

Xét thấy, đối chiếu điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu và tiêu hủy vật chứng nêu trên.

Đối với việc bị cáo cầm 03 vỏ chai bia bằng thủy tinh đánh bị hại và làm bể 03 vỏ chai bia bằng thủy tinh, do chủ sở hữu là Lư Thị Thanh không yêu cầu định giá và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Cơ quan cảnh sát điều tra C an huyện Long P không xử lý bị cáo về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là có căn cứ

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 409.117 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, g khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt, việc áp dụng pháp luật, bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T(Ba N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; khoản 1 Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T(Ba N) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 26/11/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584; 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Thành T(Ba N) phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Trương Văn Nghiệp số tiền là 8.682.349 đồng (Tám triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn ba trăm bốn mươi chín đồng). Tiếp tục giao cho Cơ quan thi hành án dân sự huyện Long P quản lý số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) mà bị cáo đã nộp theo biên lai số 000928 ngày 21/12/2020 để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) cây dao có cán nhựa màu vàng dài 10,5 cm, trên cán dao có chữ KIWI, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, loại một lưỡi sắc, mũi dao hình cung, lưỡi dao bị cong đo được chiều dài 11cm, trên lưỡi dao có chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAND.

- 02 (hai) mảnh vỡ vở chai bia bằng thủy tinh màu xanh có chữ BECK’S và nhiều mảnh vỡ vỏ chai bia bằng thủy tinh màu nâu đỏ có chữ SAGOTA.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, g khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thành T(Ba N) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 409.117 đồng (Bốn trăm lẽ chín nghìn một trăm mười bảy đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ