- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2021/HS-ST Ngày: 19 - 01 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trác
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Nghị
2. Bà Phạm Thị Huệ
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 01 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 133/2020/TLST-HS ngày 31/12/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HS ngày 06/01/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh B, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1967 tại huyện Th, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Thôn S, xã Ph, huyện H, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Con ông Nguyễn Quang T (đã chết) và bà Cao Thị Th (đã chết); Vợ: Cao Thị X, sinh năm 1967; Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006. Nhân thân: Năm 1991 tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam, đến năm 1993 xuất ngũ. Ngày 17/02/1999 bị Công an xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ công cụ, phương tiện sử dụng trái phép chất ma túy”; Bản án số 08/HSST, ngày 11/3/1997, Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”; Bản án số 63/HSST, ngày 18/10/1999, Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ công cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2020, chuyển tạm giam ngày 27/9/2020 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1962
Địa chỉ: Thôn Kh, xã Ph, huyện H, tỉnh Thái Bình
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1963
Địa chỉ: Thôn B, xã Ph, huyện H, tỉnh Thái Bình
(Ông S, ông N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 24/9/2020, tại đoạn đường liên xã thuộc địa phận thôn Kh, xã Ph, huyện H; Công an huyện Hưng Hà đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thanh B có hành vi cất giấu trong lòng bàn tay trái 02 gói ma túy (hêrôin) có khối lượng 0,1351gam, mục đích sử dụng cho bản thân. Công an huyện Hưng Hà đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, quản lý và niêm phong 02 gói ma túy thu của Bình,.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thanh B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội
Bản kết luận giám định số: 357/KLGĐMT-PC09, ngày 26/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại hêrôin có khối lượng 0,1351gam.
Bản cáo trạng số: 10/CT-VKSHH ngày 31 tháng 12 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đã truy tố Nguyễn Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới do đó đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như tại bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38; điều 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2020; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng và không có tranh luận
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trước phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh B đều khai nhận: Ngày 24/9/2020, bị cáo mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở khu vực bưu điện thị trấn H, huyện Hưng Hà 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng, trên đường mang ma túy về nhà thì bị Công an huyện Hưng Hà bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Văn N. Ngoài ra còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang ; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; Bản kết luận giám định số 357/KLGĐMT-PC09 ngày 26/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Như vậy có đầy đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Điều 249 BLHS: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
……………
c) Hêrôin, Cocain, Methamphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
………..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả vụ án cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm, tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội, vì vậy pháp luật Nhà nước ta đã có những chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này nhằm hạn chế và tiến tới xóa bỏ ma túy khỏi đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,1351 gam hêrôin, như vậy đã phạm vào tình tiết quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án và 01 lần bị xử phạt hành chính đều về hành vi có liên quan đến ma túy. Do vậy cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo nói riêng cũng như phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng xét bị cáo khai báo thành khẩn, có thời gian tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Bị cáo mục đích tàng trữ trái phép ma túy là để sử dụng cho bản thân, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai được người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở khu vực bưu điện thị trấn H, huyện H. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, không xác định được người bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ xử lý người bán ma túy cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 357/KLGĐMT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn tiền án phí
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Thanh B: 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2020.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 357/KLGĐMT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Thanh B không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; -VKSND huyện Hưng Hà; - Công an huyện Hưng Hà; - Chi cục THADS huyện Hưng Hà; - Bị cáo – Trại tạm giam; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quang Trác |