vanban.org

Bản án 05/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lường Văn V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tú ".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn V 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngà bị cáo bị bắt, tạm giữ (Ngà 28/7/2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn V tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lường Văn V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tú ".
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 05/2021/HS-ST
Ngày: 26/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngu n Thanh Ng c

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lò Thị Cải

2. Bà Trần Thị Du ên

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Xuân Tuân - Thư ký Toà án nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo qu ết định đưa vụ án ra xét xử số:03/2021/ QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Lường Văn V, tên g i khác: không; sinh năm 1990 tại Điện Biên;

Nơi ĐKNKTTvà chỗ ở: Bản C, xã S, hu ện Đ, tỉnh Điện Biên;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn M và bà Lường Thị M; Có vợ là Lường Thị T (đã ly hôn), bị cáo có 01 con (đã chết). Tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật gì; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngà 28/7/2021, sau đó bị tạm giam cho đến na , có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Bản P, xã P, hu ện Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 45' ngày 28/7/2021, khi Lường Văn V đang đi bộ ở đường thuộc bản Cang, xã Sam Mứn, hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã Sam Mứn phát hiện bắt quả tang và thu giữ tại túi áo ngực bên trái của V đang mặc 01 gói nilon màu hồng. Trong đó có chứa hai viên Methamphetamine có khối lượng 0,21 gam và một gói Heroine có khối lượng là 0,17 gam. Bị cáo khai nhận số ma túy trên có được là do vào khoảng 19 h 00' cùng ngày bị cáo đi bộ từ chợ Pom Lót đến nhà của Lò Thị Hồng trú bản Pom Lót, xã Pom Lót, hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên mua được của Hồng 02 viên Methamphetamine và 01 gói Heroine với số tiền 150.000 đồng, mục đích để bản thân sử dụng. Sau khi mua ma túy bị cáo chưa sử dụng được thì bị bắt giữ.

Tại phiên tòa, bị cáo có thành khẩn khai báo nhưng không ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân. Bị cáo đề nghị được mi n tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị H cho rằng bản thân không bán ma tú cho bị cáo, không có ý kiến êu cầu gì.

Bản cáo trạng số: 252/CT-VKSĐB ngày 01/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tru tố bị cáo Lường Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tú " theo qu định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ ngu ên qu ết định tru tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lường Văn V với mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tú . Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủ số vật chứng thu giữ của bị cáo gồm: 0,17 gam Heroine, đã dùng phục vụ giám định còn lại 0,1 gam và 0,21 gam Methamphetamine, đã dùng phục vụ giám định còn lại 0,17 gam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án mi n cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 19 giờ 45' ngày 28/7/2021, tại đường đi thuộc Bản Cang, xã Sam Mứn, hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Lường Văn V đã bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,21 gam Methamphetamine và 0,17 gam Heroine với mục đích để sử dụng. Heroine và Methamphetamine đều là chất ma tú được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, theo quy định tại điều 4 nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngà 02/02/2018 của Chính Phủ qu định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tú tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma tú V giữ của bị cáo là 0,38 gam tương đương khối lượng ma tú quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi tàng trữ 02 chất ma tú nêu trên của bị cáo đã phạm vào điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của V đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc qu ền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo là người có đầ đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi trên của bị cáo đã được chứng minh tại các biên bản: bắt người phạm tội quả tang; niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; mở niêm phong xác định khối lượng lấ mẫu giám định và niêm phong vật chứng, tại kết luận giám định, các lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

Như vậ , Hội đồng xét xử thấ đủ căn cứ xác định bị cáo Lường Văn V có tội, bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tú theo qu định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên đã tru tố.

Về tính chất, mức độ nghiêm tr ng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi trên của bị cáo là hành vi ngu hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm tr ng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc qu ền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tú , làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo phạm tội xuất phát từ động cơ nghiện chất ma tú , coi thường pháp luật; Mục đích hành vi của bị cáo là nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thành khẩn khai báo. Do vậ , bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qu định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ ngu hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; Xét cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách l bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấ cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân đối với bị cáo mới đủ sức giáo dục đối với bị cáo, phù hợp, tương xứng với hành vi tàng trữ trái phép hai chất ma tú và thái độ chưa thật sự ăn năn hối cải của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo qu định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tu nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấ bị cáo là đối tượng có thu nhập thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn và không có tài sản gì có giá trị lớn tại địa phương nơi sinh sống, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thấ 0,17 gam Heroine và 0,21 gam Methamphetamine vật chứng thu giữ của bị cáo là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủ .

Về án phí: Hội đồng xét xử căn cứ qu định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị qu ết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 ngà 30/12/2016 qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án cho bị cáo được mi n tiền án phí hình sự sơ thẩm vì bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo.

Về vấn đề có liên quan khác: Bị cáo khai mua ma tú của Lò Thị H, qua điều tra không đủ cơ sở xác định H đã bán ma tú cho bị cáo. Do vậ , Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với Lò Thị H.

Về tính hợp pháp của các hành vi, qu ết định tố tụng: Các hành vi, qu ết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an hu ện Điện Biên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên trong quá trình điều tra, tru tố đã được thực hiện đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật tố tụng hình sự, cho nên các hành vi, qu ết định tố tụng của những người nà đều đảm bảo tính hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 điều 136, khoản 1, 4 điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 4 nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngà 02/02/2018 của Chính Phủ qu định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tú tại một số điều của Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lường Văn V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tú ".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn V 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngà bị cáo bị bắt, tạm giữ (Ngà 28/7/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủ số ma túy thu giữ của Lường Văn V gồm: 0,17 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định còn lại 0,1 gam và 0,21 gam Methamphetamine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định còn lại 0,17 gam; (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2021 giữa Công an huyện Điện iên và Chi cục Thi hành án dân s huyện Điện iên, t nh Điện iên).

4. Về án phí: Mi n cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về qu ền kháng cáo: Bị cáo có qu ền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngà tu ên án (26/10/2021). Người có qu ền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có qu ền kháng cáo phần bản án, qu ết định có liên quan đến qu ền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngà kể từ ngà nhận được bản án hoặc ngà bản án được niêm ết theo qui định của pháp luật.

Cỡ chữ