- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị H ly hôn với Phan Đình T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2021/HNGĐ-ST. Ngày: 21/01/2021. V/v: “ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thông Phi.
2. Bà Huỳnh Thị Yến.
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 295/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2020, về việc: “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Xóm 6, Thôn 3, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận;
Bị đơn: Anh Phan Đình T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Khu phố LH, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
(Các đương sự vắng mặt nhưng đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Thể hiện trong đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn - chị Trịnh Thị H yêu cầu:
Chị H và anh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L vào năm 2011. Sau khi kết hôn chung sống với nhau không hạnh phúc do không có sự hòa hợp về tích cách, công việc của nhau. Vợ chồng bất đồng về tiền bạc kinh tế trong gia đình, thiếu sự quan tâm chia sẽ với nhau trong cuộc sống, từ đó không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cải nhau. Chung sống với nhau đến khoảng năm 2016 thì mâu thuẫn vợ chồng lên đến đỉnh điểm, xảy ra cải vả với nhau nên chị H đã bỏ đi về sống với cha mẹ tại Thôn 3, xã G, huyện T, rồi sau đó đi làm ở Ninh Thuận. Tính đến nay chị H và anh T sống ly thân đã hơn 4 năm. Hiện nay bản thân chị H xác định không còn tình cảm đối với anh T nên yêu cầu giải quyết ly hôn. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
- Chứng cứ nguyên đơn chị H cung cấp bao gồm: Bản sao trích lục kết hôn; bản phô tô (chứng thực) chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Thị H và bản phô tô sổ hộ khẩu.
Bị đơn - anh Phan Đình T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án đã trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn như sau:
Anh T và Trịnh Thị H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L vào năm 2011. Sau khi kết hôn, do công việc không thuận lợi nên khoảng 2 năm sau anh T và chị H mỗi người đi làm một nơi khác nhau. Do công việc không ổn định, nên khó khăn về kinh tế tiền bạc dẫn đến vợ chồng phải đi làm một nơi, ít có điều kiện gặp nhau. Theo như ý kiến mà chị H trình bày nguyên nhân ly hôn là do vợ chồng bất đồng về tích cách công việc, tiền bạc trong gia đình, vợ chồng chung sống với nhau nhiều năm mà không có con là đúng. Trường hợp chị H đã cương quyết ly hôn, không mong muốn hòa giải đoàn tụ để quay về chung sống thì anh T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H. Về con chung: không có. Về tài sản chung và nợ chung: anh T không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến như sau:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của BLTTDS năm 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán thụ lý vụ án đúng thẩm quyền về việc giải quyết ly hôn, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách pháp lý của người tham gia tố tụng theo quy định BLTTDS, tiến hành lấy lời khai, thu thập chứng cứ, thông báo phiên họp và hòa giải cho đương sự, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử, hồ sơ và các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát nghiên cứu; cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng vụ án giải quyết đúng thời hạn theo quy định của BLTTDS năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng theo quy định BLTTDS. Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và các Điều 146, 147, 203, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh T.
+ Về án phí: Chị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Tánh Linh nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Trịnh Thị H:
Chị H và anh T kết hôn tự nguyện, có đăng ký tại UBND thị trấn L năm 2011 nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị H và anh T chung sống với nhau không hạnh phúc mà phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được nên đã tự sống ly thân. Chị H làm đơn yêu cầu ly hôn với anh T bởi vì vợ chồng không còn tình cảm với nhau, trước đây chung sống đã xảy ra bất đồng, thiếu sự quan tâm chia sẽ với nhau trong cuộc sống. Anh T thừa nhận trong thời gian chung sống, anh chị chung sống với nhau không hạnh phúc mà có xảy ra mâu thuẫn như chị H đã trình bày là đúng. Chị H và anh T nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn đoàn tụ và đều có đơn từ chối tham gia hòa giải và xét xử vắng mặt. Nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy: Giữa chị H và anh T đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau được quy định tại điều 19 Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Mặt khác hôn nhân hạnh phúc phải được xây dựng từ cả hai phía, trong khi đó bản thân chị H và anh T đều xác định đã không còn tình cảm và không mong muốn tiếp tục chung sống với nhau và hiện nay đã sống ly thân nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, quyết định cho chị H được ly hôn với anh T, để cả hai có điều kiện ổn định cuộc sống là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị H và anh T không có con chung nên không xét đến.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T đều không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
Về án phí: Cần buộc chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Điều 146, 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 146, 147, 203, 227, 228, 238, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn - chị Trịnh Thị H.
1. Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị H được ly hôn với anh Phan Đình T.
2. Về án phí: Chị Trịnh Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn đã nộp theo biên lai số N.0004340, ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Chị H đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, Nguyên đơn, bị đơn sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tánh Linh; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Tánh Linh; - UBND thị trấn L; - Lưu văn phòng, hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Mạnh Trí |