vanban.org

Bản án 05/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị LTTT ly hôn anh NQT.

Về con chung: Giao cho chị LTTT trực tiếp nuôi con NGKH, sinh ngày 22/7/2014 đến khi con đủ 18 tuổi. Anh NQT không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; không ai được cản trở. Không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn T - T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị LTTT ly hôn anh NQT.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐĂK TÔ
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/HNGĐ-ST
Ngày 6/5/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ –TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông NBB.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Hồng Tự và ông Nguyễn Văn Luận.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tú– Thư ký Toà án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Y Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 6/5/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 89/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2020, về việc “tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/QĐXX-HNGĐ ngày 23/3/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị LTTT, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn 7, xã Kon Đào, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

- Bị đơn: Anh NQT, sinh năm 1992. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 1, xã Kon Đào, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị LTTT trình bày:

Chị (LTTT) và anh NQT kết hôn ngày 09/7/2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kon Đào. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do không tôn trọng nhau, không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người ấy sống, đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2019 đến nay. Chị đã nộp đơn xin ly hôn một lần vào tháng 5 năm 2020, được Tòa án hòa giải nên chị rút đơn khởi kiện nhưng từ đó đến nay, mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi. Chị T không còn tình cảm với anh T, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: NGKH, sinh ngày 22/7/2014, đang ở với chị T , chị xin nhận nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, anh NQT đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến về việc xin ly hôn. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án giải quyết vắng mặt bị đơn.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị LTTT được ly hôn anh NQT. Giao cho chị LTTT trực tiếp nuôi con NGKH.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn, anh NQT đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị LTTT và anh NQT kết hôn ngày 09/7/2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kon Đào, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tôn trọng nhau, không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người ấy sống, đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2019. Chị Tđã nộp đơn xin ly hôn vào tháng 5 năm 2020, được Tòa án hòa giải nên chị rút đơn khởi kiện nhưng từ đó đến nay, mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi. Chị T không còn tình cảm với anh T. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng Chị Tvà anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử cho chị LTTT được ly hôn anh NQT theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị T nhận nuôi con NGKH. Xem xét nguyện vọng của chị T , nên giao cháu Hân cho Chị Ttrực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T có đủ khả năng nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56; 81; 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về hôn nhân: Xử cho chị LTTT ly hôn anh NQT.

Về con chung: Giao cho chị LTTT trực tiếp nuôi con NGKH, sinh ngày 22/7/2014 đến khi con đủ 18 tuổi.

Anh NQT không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; không ai được cản trở. Không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chị LTTT phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0003836 ngày 09/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Chị LTTT đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ