vanban.org

Bản án 05/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí: Bà Hồ Thị H phải chịu 11.000.000 (Mười một triệu đồng) án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Lê Thị Th số tiền 5.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số: AA/2018/0008513 ngày 23/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm. Quy định: Kể từ ngày c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LÂM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/DS-ST
Ngày: 23/4/2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thảnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngô Quốc Cƣờng

2. Bà Mai Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Cam lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Trƣơng Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 23/4/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 114/2020/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐXXST-DS ngày 01/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2021/QĐST-DS ngày 15/4/2021giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Th – sinh năm 1964

Địa chỉ: tổ dân phố LA, phường CL, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

* Bị đơn: Bà Hồ Thị H - sinh năm 1980

Địa chỉ: Thôn LS, xã CTB, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/12/2020, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Th trình bày:

Bà là kế toán cho DNTN Hà Đô do bà Hồ Thị H là chủ doanh nghiệp, bà H có mượn tiền làm ăn, mượn nhiều lần tổng cộng số tiền mượn là 400.000.000 đồng.

Ngày 05/5/2018 giữa bà và bà Hồ Thị H đã lập biên bản thỏa thuận xác nhận nợ 400.000.000 đồng, bà H cam kết trả nợ trong vòng 03 tháng kể từ ngày 05/5/2018, hạn chót trả nợ là ngày 05/8/2018.

Khoản vay trên giấy tờ không thỏa thuận lãi suất, vì thế bà không yêu cầu trả lãi. Tuy nhiên, đến nay bà H chỉ mới trả được 180.000.000 đồng. Còn nợ chưa trả là 220.000.000 đồng.

Nay, bà yêu cầu bà H trả một lần số tiền 220.000.000 đồng khi bản án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu lãi suất chậm trả.

Tại bản tự khai ngày 05/02/2021, biên bản hòa giải và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Hồ Thị H trình bày:

Bà H xác nhận có vay tiền của bà Th là 400.000.000 đồng như đã ký tại biên bản thỏa thuận xác nhận nợ ngày 05/5/2018. Sau đó bà đã trả 180.000.000 đồng, do làm ăn khó khăn nên còn nợ lại 220.000.000 đồng. Việc vay nợ là của cá nhân bà, không liên quan đến việc làm ăn của doanh nghiệp và gia đình.

Khoản vay từ năm 2015, đến năm 2018 mới chốt nợ, khi vay có trả lãi 20.000.000 đồng/tháng trên tổng khoản vay 400.000.000 đồng. Trả lãi cho bà Th trong khoảng 15 tháng tổng cộng 300.000.000 đồng. Việc trả lãi giữa hai bên tự nguyện thỏa thuận, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết liên quan đến khoản lãi bà đã trả cho bà Th. Khoản vay chốt lại tại tờ xác nhận nợ giữa bà và bà Th ngày 05/5/2018 thì không thỏa thuận lãi suất.

Bà đồng ý trả cho bà Lê Thị Th số tiền 220.000.000 đồng, nhưng do việc làm ăn gặp khó khăn nên yêu cầu được trả trong thời hạn 16 tháng, mỗi tháng là 13.750.000 đồng.

Tại phiên tòa bà H đề nghị được trả số tiền trên trong thời hạn 08 tháng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm có quan điểm:

* Về tố tụng: Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Cam Lâm nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

* Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Hồ Thị H có hộ khẩu thường trú tại: Thôn LS, xã CTB, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa. Bà Lê Thị Th khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thị H trả số tiền nợ đã vay là 220.000.000 đồng. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Việc Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về nội dung vụ án: Bà Hồ Thị H thừa nhận có vay của bà Lê Thị Th số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) như đã ký tại biên bản thỏa thuận xác nhận nợ ngày 05/5/2018. Sau đó bà đã trả được 180.000.000 đồng, do làm ăn khó khăn nên còn nợ lại 220.000.000 đồng. Bà Th yêu cầu bà H trả số tiền nợ là 220.000.000 đồng, yêu cầu bà H thanh toán một lần khi bản án có hiệu lự pháp luật. Bà H đồng ý số tiền nợ là 220.000.000 đồng (hai trăm hai mươi triệu đồng) nhưng bà H cho rằng không có khả năng thanh toán một lần như yêu cầu của bà Th mà xin được trả dần trong thời hạn 08 tháng. Xét đây là những tình tiết mà các bên đều thống nhất và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận là những tình tiết có thật theo quy định tại khoản 2, Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc bà H chậm trả tiền cho bà Th đã xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của bà Th. Bà H đã kéo dài thời gian trả nợ cho bà Th. Vì vậy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận. Buộc bà H phải có trách nhiệm trả cho bà Th số tiền 220.000.000 đồng (hai trăm hai mươi triệu đồng) ngay một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2, Điều 92, Điều 147, Điều 264, 266, 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bà Hồ Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lê Thị Th số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng) ngay một lần, khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Bà Hồ Thị H phải chịu 11.000.000 (Mười một triệu đồng) án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Lê Thị Th số tiền 5.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số: AA/2018/0008513 ngày 23/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả, theo mức thỏa thuận hoặc theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ