vanban.org

Bản án 05/2021/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Yên Bái Tuyên án 23/03/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2020/DS-ST ngày 10-12-2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 203 của Luâ ̣t Đất đai 2013; khoản 1 Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự ; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thườ ng vụ Quố c hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu , miễn, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp lối đi chung giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn D"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2020/DS-ST ngày 10-12-2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/DS-PT
Ngày 23-3-2021
V/v tranh chấp lối đi chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Lan

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hồng Quân

Ông Vũ Dũng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đông - Thư ký, Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà:

Bà Lân Thị Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2021/TLPT-DS ngày 19 tháng 01 năm 2021 về “Tranh chấp lối đi chung”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2020/DS-ST ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2021/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số: 03/2021/QĐ-PT ngày 04-3-2021, giữa các đương sự:

1- Đồng nguyên đơn:

- Ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thi ̣ L

Địa chỉ: Thôn QN, xã YT, huyê ̣n V, tỉnh Yên Bái;

- Anh Vũ Anh S và chị Nguyễn Thị Kiều O

Đi ̣a chỉ: Thôn 6 (Khe Bốn), xã YH, huyê ̣n V, tỉnh Yên Bái;

- Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thi ̣ H 1

- Bà Nguyễn Thi ̣ A

- Anh Nguyễn Văn L1 và chị Cao Thi ̣ N1

- Anh Nguyễn V ăn L2 và chị Trần Thi ̣ N2

- Anh Lương Xuân N3 và chịNguyễn Thị L3

Cùng đi ̣a chỉ : Thôn TT, xã YT, huyê ̣n V, tỉnh Yên Bái , các đồng nguyên đơn đều có mă ̣t, riêng chị H1 và chị L3 vắng mặt;

2 - Đồng bị đơn:

- Ông Nguyễn Văn D

- Anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2

Cùng địa chỉ: Thôn TT, xã YT, huyê ̣n V, tỉnh Yên Bái, đều có mă ̣t;

3 - Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân huyện V , tỉnh Yên Bái

Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t : Ông Hà Đức A1- Chủ tịch.

Ngườ i đại diện theo ủy quyền : Ông Trần Thống B - Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trườ ng h uyê ̣n V, tỉnh Yên Bái , vắng mặt (Đã có đơn đề nghi ̣ xét xử vắng mă ̣t);

- Ủy ban nhân dân xã YT, huyê ̣n V, tỉnh Yên Bái

Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t : Ông Đoàn Ma ̣nh C - Chủ tịch.

Ngườ i đại diện theo ủy quyền : Ông Nguyễn Tiến Th - Phó Chủ tịch , vắng mặt (Đã có đơn đề nghi ̣ xét xử vắng mă ̣t ).

4 - Ngườ i là m chứ ng:

- Ông Nguyễn Văn H2

Địa chỉ: Thôn TT, xã YT, huyê ̣n V, tỉnh Yên Bái;

- Ông Nguyễn Văn Tr

- Ông Phạm Văn L4

- Ông Nguyễn Văn H 3

Cùng địa chỉ: Thôn QN, xã YT, huyê ̣n V, tỉnh Yên Bái;

- Ông Trần Văn H4

Địa chỉ: Thôn 2, xã YT, huyện V, tỉnh Yên Bái

Những người làm chứng đều vắng mặt.

5 - Người kháng cáo:

Ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thi ̣ L là đồng nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái thì vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa các đồng nguyên đơn thống nhất trình bầ y: Năm 1996, ông Nguyễn Văn T đa xin đẫ

́t chè của bà Nguyễn Thi ̣ A và đất trồng cọ của ông Nguyễn Văn H 2 để làm lối đi chung là 2,5m (Là lối đi chung hiê ̣n nay đa ng tranh chấp ). Năm 2010, ông Nguyễn Văn D mua đất của ông Nguyễn Văn H 2 ở phia trên của lối đi chung của các đồng nguyên đơn và xin đất

́ chè của bà Nguyễn Thi ̣ A để làm lối đi khai thác gỗ xuống đường (là lối đi chung đang tranh chấ p hiện nay ). Đến năm 2013, các đồng nguyên đơn cùng nhau góp tiền để mở rô ̣ng thêm đườ ng khoảng 4m để ô tô đi vào được thuâ ̣n lợi cho viê ̣c vâ ̣n chuyể n hàng hóa . Năm 2013 ông D và anh Hoàng Văn X (con rể ông D ) đa gõ ́p 100.000 đồng/người cho ông T để đi xe trâu đi qua lối đi chu ng đó . Đến năm 2017, ông D đòi la ̣i ông T số tiền 200.000 đồng đó , gia đinh ông T đa mang 200.000 đỗ

̀ng

̀ trả cho ông D . Năm 2018, con đườ ng này đa bi ̣̃ xuống cấp nên các đồng nguyên đơn đã cùng nhau góp tiền để sử a chữa, nhưng gia đinh ông D không tham gia

̀ cùng và tự mở một con đường khác để đi lại riêng . Khi ông D mở được con đườ ng khác để đi lạ i riêng thi ông D đa lẫ ́p đất và dùng búi tre và cây co ̣ chắn xuống con

̀ đườ ng đi chung của 07 hô ̣ gia đinh đồng nguyên đơn , gây cản trở nên các đồng

̀ nguyên đơn không có lối đi vào rừ ng để khai thác cây cối .

Ngày 18-02-2019, ông T đa làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện V .̃ Tòa án đã thụ lý và đến ngày 02-8-2019, Tòa án nhân dân huyện V tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ . Kết quả như sau : Toàn bộ lối đi chung hiện nay đang tranh chấp đa nẵ ̀m tron g giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất

(Viết tắt là QSDĐ ) số: CH00023 ngày 30-6-2010 của anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2 do Uỷ ban nhân dân (Viết tắt là UBND) huyê ̣n V cấp. Diê ̣n tich lối đi chung là 188m2.

́ Cụ thể như sau:

- Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thi ̣ A là: 5,04m;

- Phía Đông giá p đất ông Nguyễn Văn T là: 2,04m + 22,90m + 12,44m + 5,90m = 43,28m;

- Phía Tây giáp đất anh Nguyễn Văn Đ là:

6,12m+8,38m+4,78m+4,47m+4,65m+3,64m+4,86m+4,20m=41,1m;

Nay các đồng nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện V giải quyết hai yêu cầu cụ thể như sau :

- Buô ̣c ông D phải hót đất và dỡ bỏ rào bằng cây cọ để trả lại hiện trạng lối đi chung như ban đầu .

- Đề nghi ̣ hủy giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất số : CH00023 ngày 30-6-2010 do UBND huyê ̣n V cấp cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2. Vớ i lý do cấp chồng vào lối đi chung của các đồng nguyên đơn .

Đồng bi ̣ đơn ông Nguyễn Văn D trình bày : Năm 1993, gia đin h ông được

̀ giao 3,5ha đất rừ ng . Khi nhâ ̣n đất hoàn toàn không có đườ ng đi và đườ ng đi lô ̣i theo khe từ đườ ng cái vào . Năm 2010, làm sổ mới ông chia đất cho các con là Nguyễn Thi ̣ E và Nguyễn Văn Đ vẫn chưa có đườ ng đi mà đi theo khe . Đến năm 2013, mở đườ ng cho ô tô đi , gia đinh ông cho đất mở đườ ng và chă ̣t quế không

̀

phải bồi thường vào đế n trong bờ đâ ̣p nhà ông H . Ông T có hỏi mở thêm đường vào trong khe phụ nữ và nói người bỏ đất , ngườ i bỏ tiền nên ôn g cho mở đườ ng để cả hai gia đình cùng đi . Mở đường xong ông và các con ông đ óng thêm cho gia đinh ông T 300.000 đồng. Đến năm 2014, con gái ông là E khai thác cây bị ông T ̀ cấm không cho đi . Đến năm 2016, ông tia 11 bó lá quế, xe vả

̀o bốc lá ông T không cho đi và bắt vác r a ngoài bờ đâ ̣p nhà ông H . Do đó, ông đã chă ̣t co ̣ lấp đườ ng thì ông T làm đơn vào UBND xã YT, UBND xa đã hõ ̀a giải ngày 03-6-2016 và kết luận: Không bên nào được cấm và để đườ ng đi chung , các bên tranh chấp đều nhất trí. Ngày 20-11-2018, gia đinh ông khai thác quế ông T lại cấm không cho xe vào

̀ bốc nên ông đã làm đơn vào UBND xa xin mỡ

̉ đườ ng trên đất nhà ông . UBND xa ̃ đa thã ̀nh lâ ̣p đoàn kiểm tra và xác minh , xác định là đất của anh Đ và gia đình ông được phép mở đườ ng và lấy la ̣i đoa ̣n đườ ng cũ . Bây giờ đất ai ngườ i ấy đi , không liên quan đến nhau . Nay các đồng nguyên đơn đề nghi ̣ ông phải hót đất và dỡ bỏ rào bằng cây cọ để trả lại hiện trạng l ối đi chung như ban đầu . Diê ̣n tich lối đi

́ chung là 188m2, ông không nhất tri vi toàn bô ̣ lối đi hiê ̣n nay đang tranh chấp nằm

́ ̀

trên đất của gia đinh ông .

̀

Đồng bị đơn anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2 cùng thống nhất trình bày: Năm 2010, bố anh Đ là ông Nguyễn Văn D làm sổ mới chia đất cho hai vợ chồng anh chị . Khi đó vẫn chưa có đườ ng đi và đườ ng đi toàn bô ̣ lô ̣i theo khe . Con đườ ng đi vào trong khe phụ nữ là giữa lòng ao nhà ông T đắp lên bây giờ chứ không phải là con đườ ng hiê ̣n nay đang tranh chấp . Năm 2013, gia đinh ông T có

̀ hỏi ông D mở con đườ ng mớ i để cùng nhau đi và nói ngườ i bỏ đất , ngườ i bỏ tiền và gia đình ông D không đồng ý . Năm 2014, chị gái anh Đ là chị E khai thác cây bị ông T cấm không cho đi . Năm 2016, ông D có tỉa cành quế , ông T không cho xe vào bốc và bắt vác ra ngoài , nên gia đinh anh chị đã chă ̣t co ̣ lấp đườ ng . Ông T làm

̀

đơn vào UBND xã , được hòa giải ngày 03-6-2016 không bên nào được cấm và để đườ ng đi chung , gia đình anh chị đồng ý . Nhưng đến ngày 20-11-2018, gia đinh

̀ anh chị khai thác quế ông T lại cấm không cho xe vào bốc và đòi trả

500.000 đồng/chuyến. Gia đinh anh chị không đồng ý nên bố anh đa lã ̀m đơn lên UBND xa ̃

̀ xin mở đườ ng trên đất của gia đình . Đến nay, các đồng nguyên đơn khởi kiện đề nghị hủy giấy cấp đất của anh chị, anh Đ và chị V2 không nhất tri.

́

Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan ông Trần Thống B trình bầy: Về quá trình cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V2. Trên cơ sở xem xét hồ sơ , tài liệu lưu trữ do Chi nhánh Văn phòng đăng lý đất đai huyê ̣n V cung cấp và căn cứ các quy đi ̣nh của pháp luật về đất đai , UBND huyện V có ý kiến như sau : Về căn cứ pháp lý : Trình tự , thẩm quyền cấp giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2 được thực hiê ̣n theo đúng quy trinh Luâ ̣t Đất đai năm 2003.

̀

Cơ sở thực tiễn: Thử a đất được trich đo thực tế ta ̣i thờ i điểm cấp giấy chứ ng

́

nhâ ̣n QSDĐ số : CH00023 cấp ngày 30-6-2010 vớ i tổng diê ̣n tich 10.920m2 là đất

́ rừng sản xuất . Nguồn gốc sử dụng đất do UBND xã YT xác nhận . Viê ̣c đ ồng nguyên đơn đề nghi ̣ hủy giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ số : CH00023 ngày 30-6-2010 do UBND huyê ̣n V cấp cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2, UBND huyê ̣n V không nhất tri vớ i lý do viê ̣c cấp đất được thực hiê ̣n đúng quy trinh của

́

̀ Luâ ̣t Đất đai năm 2003.

- Ông Nguyễn Tiến Th trình bày: UBND xã YT đa nhâ ̣̃

n đơn đề nghị của ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn D . Quá trình giải quyết như sau :

Ngày 15-5-2016, UBND xa nhâ ̣̃

n được đơn đề nghị của ông Nguyễn Văn T về tranh chấp lối đi chung vớ i ông Nguyễn Văn D .

Ngày 16-5-2016, UBND xa chĩ

đa ̣o tổ hòa giải thôn bản tiến hành hòa giải

̉

thôn nhưng không thành .

Ngày 03-6-2016, Hô ̣i đồng hòa giải của xa ra quyết đi ̣̃

nh hòa giải và đa hõ ̀a giải thành.

Ngày 16-11-2018, UBND xa nhâ ̣̃

n được đơn đề nghi ̣ của ông D về việc xin mở đườ ng mớ i.

Ngày 23-11-2018, UBND xã yêu cầu ông D giữ nguyên hiê ̣n tra ̣ng đườ ng đang tranh chấp và yêu cầu ông D và ông T thực hiê ̣n các nô ̣i dung đa thỗ ́ng nhất hòa giải theo biên bản hòa giải ngày 03-6-2016. Nhưng hai gia đinh vẫn không hoà

̀ giải được tranh chấp.

Ngày 26-11-2018, UBND xa tiếp tụ̃

c yêu cầu ông T và ông D thực hiê ̣n các nô ̣i dung đa thõ ̉a thuâ ̣n theo biên bản ngày 03-6-2016.

Ngày 30-11-2018, UBND xa tiếp tụ̃

c nhâ ̣n được đơn đề nghi ̣ của ông T đề nghị việc tranh chấp lối đi chung :

Ngày 15-12-2018, UBND xa tiếp tụ̃

c thành lâ ̣p hô ̣i đồng hòa giải để giải quyết. Ngày 25-12-2018, UBND xa tiến hã

̀nh hòa giải nhưng không thành .

Ngày 28-8-2019, ông Tự tiếp tục làm đơn đề nghi ̣ UBND xa giã ̉i quyết về

viê ̣c tranh chấp lối đi chung .

Ngày 15-10-2019 UBND xa chĩ

đa ̣o tổ hòa giải thôn cùng cán bô ̣ chuyên

̉

môn hòa giải ta ̣i thôn nhưng không thành .

Ngày 08-11-2019, UBND xa ra quyết đi ̣̃

nh thành lâ ̣p Hô ̣i đồng hòa giải .

Ngày 02-12-2019, Hô ̣i đồng hòa giải tiếp tục hòa giải nhưng không thành .

Căn cứ bản đồ đi ̣a chinh 672, tờ số 1 của UBND xã YT thì hiện trạng cấp sổ

́ của hai gia đinh ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn Đ không thể hiê ̣n có lối đi

̀ chung. Viê ̣c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ cho các hô ̣ gia đinh đúng theo trinh tự thủ

̀

̀ tục và thẩm quyền quy định của Luật Đất đai năm 2003.

Về nguồn gốc sử dụng đất: UBND xa đã công khai nguỗ

̀n gốc đất ta ̣i cơ sở các thôn, lấy chữ ký giáp ranh của các hô ̣ trướ c khi xác nhâ ̣n nguồn gốc đất gử i cơ quan có thẩm quyền phê duyê ̣t để cấp giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ

. UBND xa YT̃ không nhất tri nội dung các đồng nguyên đơn đề nghi ̣ hủy giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ

́ số: CH00023 cấp ngày 30-6-2010 do UBND huyê ̣n V cấp cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2. Lý do, viê ̣c cấp đất được thực hiê ̣n đúng quy trinh của

̀ Luâ ̣t Đất đai năm 2003.

Viê ̣c sử dụng lối đi chung của các hô ̣ căn cứ vào nguồn gốc trướ c đây không có con đường đi qua phần đất có tranh chấp , các hộ đi lại vận chuyển gỗ , nứ a, củi theo khe. Hiê ̣n nay, gia đình ông T đa đẵ ́p mô ̣t con đâ ̣p chắn nga ng khe.

Viê ̣c hinh thành con đườ ng là lối đi chung hiê ̣n nay đang tranh chấp là do hai

̀ hô ̣ ông Nguyễn Văn T và hô ̣ ông Nguyễn Văn D tự thỏa thuâ ̣n vớ i nhau mở đườ ng trên phầ n đất của gia đinh ông D , cụ thể là đất của anh Đ con trai ông D được cấp.

̀

Những ngườ i làm chứ ng trinh bầy , nội dung cụ thể như sau:

̀

- Ông Nguyễn Văn H 2: Lối đi hiê ̣n nay đang tranh chấp giữa các đồ

ng nguyên đơn gia đinh ông T và đồng bị đơn g ia đinh ông D . Con đườ ng có từ trướ c

̀

̀ ông không biết từ khi nào , đườ ng rất nhỏ ô tô khôn g đi vào được . Sau đó ông T có xin ông đất để mở đườ ng và xin vào thờ i gian nào ông không nhớ . Ông có cho ông T đất để mở đườ ng rô ̣ng hơn , ô tô đi vào được . Hiê ̣n nay con đườ ng đó đang tranh chấp như thế nào ông không biết nên không có ý kiến gi về con đườ ng đang tranh

̀ chấp. Nay ông đa 89 tuỗ

̉i rồi nên không nhớ gi nữa .

̀

- Ông Nguyễn Văn Tr : Ông Tr và gia đinh ông D chỉ là hàng xóm với nhau ,

̀

không có mâu thuẫn gì. Ông Tr là chú ho ̣ của ông T và cũng không có mâu t huẫn gi

̀ vớ i gia đinh ông T . Ông sống ta ̣i thôn Đồng Bát (cũ) nay là thôn TT , xã YT, huyê ̣n

̀ V từ năm 1964 cho đến nay. Lối đi hiê ̣n nay gia đinh ông T và gia đinh ông D đang

̀

̀ tranh chấp, trướ c năm 2013 là không có chỉ có 01 lối đi nhỏ theo khe nướ c gần lối đi hiê ̣n nay đang tranh chấp .

- Ông Pha ̣m Văn L 4: Ông L4 và gia đình ông T, gia đin h ông D là hàng

̀ xóm, ngườ i cùng xa không cõ

́ mâu thuẫn gi . Lối đi hiê ̣n nay đang tranh chấp giữa

̀

02 gia đình, từ trướ c kia là không có nên các hô ̣ dân đều đi la ̣i dướ i lòng k he. Từ khi gia đinh ông D vào trong đó ở mới mở con đường rộng lên

, con đườ ng đó

̀ chính là con đường hiện nay đang tranh ch ấp.

- Ông Nguyễn Văn H 3: Ông H3 là em trai của ông T . Ông sống ở xa YT ,̃ huyê ̣n V từ năm 1967 cho đến nay. Lối đi hiê ̣n nay gia đinh ông T và gia đinh ông

̀

̀ D đang tranh chấp có từ xưa (Từ khi ông 15 tuổi) đi thả trâu đa cõ ́ mô ̣t lối đi nhỏ là đườ ng mòn phia ngoài rô ̣ng 3 đến 4m, đoa ̣n giữa rô ̣ng khoảng 1m nay chinh là lối

́

́ đi đang tranh chấp.

- Ông Trần Văn H 4: Khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2010, ông H4 là cán bộ thú y của xã . Từ năm 2000 đến năm 2002 trong lán thôn Đồng Bát (cũ) nay là thôn TT lúc bấy giờ có nuôi gia cầm nên ông có đi vào khu vực trong đó để tiêm phòng. Lối đi hiê ̣n nay , đang xảy ra tranh c hấp giữa hai gia đi nh ông T và ông

̀ D là không có, đườ ng đi vào chi lả ̀ khe nướ c . Vì vậy, khi vào trong đó không đi xe máy được mà phải đi bộ theo khe mới vào được .

Tại bản án số: 06/2020/DS-ST ngày 10-12-2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái đã áp dụng : Căn cứ khoản 1 Điều 203 của Luâ ̣t Đất đai 2013; khoản 1 Điều 91, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự.

1. Không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của đồn g nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô T hị L; ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thi ̣ H 1; bà Nguyễn Thi ̣ A ; anh Vũ Anh S và chị Nguyễn Thị Kiều O ; anh Nguyễn Văn L1và chị Cao Thi ̣ N1; anh Nguyễn Văn L 2 và chị Trần Thi ̣ N 2; anh Lương Xuân N3 và chị Nguyễn Thị L3 về viê ̣c yêu cầu:

- Ông Nguyễn Văn D phải hót đất và dỡ bỏ rào bằng cây cọ để trả lại cho các đồng nguyên đơn hiê ̣n tra ̣ng lối đi chung như ban đầu

. Diê ̣n tich lối đi chung là

́ 188m2. Cụ thể như sau : Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thi ̣ A là: 5,04m; phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn T là: 2,04m + 22,90m + 12,44m + 5,90m = 43,28m; phía Tây giáp đất anh Nguyễn Văn Đ là: 6,12m + 8,38m + 4,78m+4,47m + 4,65m + 3,64m + 4,86m + 4,20m =41,1m.

2. Không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của đồn g nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Th ị L; ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thi ̣ H 1; bà Nguyễn Thi ̣ A ; anh Vũ Anh S và chị Nguyễn Thị Kiều O ; anh Nguyễn Văn L1 và chị Cao Thi ̣ N1; anh Nguyễn Văn L 2 và chị Trần Thi ̣ N 2; Anh Lương Xuân N3 và chịNguyễn Thị L3 về viê ̣c yêu cầu hủy giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ số : CH00023 ngày 30-6-2010 do UBND huyê ̣n V cấp cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự theo luật định.

Ngày 23-12-2020, đồng nguyên đơn ông T và bà L kháng cáo với nội dung: Không nhất trí với quyết định của Toà án cấp sơ thẩm; đề nghị Toà án cấp phúc thẩm buộc anh Đ phải trả lại lối đi cho 07 hộ gia đình và huỷ giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho anh Đ vì đã cấp chồng lên lối đi chung của 07 hộ gia đình nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đồng nguyên đơn ông T và bà L vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo; đồng bị đơn ông D không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của đồng nguyên đơn. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của pháp luật, các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của mình. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của đồng nguyên đơn ông T và bà L; giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thẩm quyền: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp lối đi chung”. Diện tích đất tranh chấp giữa các đương sự đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và có tranh chấp quyền sở hữu nên các đồng nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án. Việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

Về tư cách người tham gia tố tụng: Toà án nhân dân huyện V đã xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của đồng nguyên đơn, đồng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án. Trong vụ án còn có ông Trần Văn H4 trú tại thôn 2, xã YT, huyện V, tỉnh Yên Bái là người biết rõ các tình tiết liên quan đến vụ án nhưng chưa được Toà án cấp sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng là thiếu sót. Tuy nhiên, thiếu sót này không làm ảnh hưởng đến nội dung và quyền lợi của các đương sự trong vụ án.

Đơn kháng cáo của đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị L nộp trong thời hạn, đúng theo quy định của pháp luật và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận để xem xét.

. Về nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

. Về nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm:

Đây là vụ án tranh chấp về lối đi chung. Các bên đương sự đồng nguyên đơn và đồng bị đơn sử dụng đất đã được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận QSDĐ.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm các đồng nguyên đơn đều

cho rằng thực tế có tồn ta ̣i mô ̣t con đườ ng rô ̣ng 2,5m là lối đi chung từ năm 1996, hiê ̣n nay đang tranh chấp . Đến năm 2013, các hộ dân cùng nhau góp tiền mở rộng con đườ ng khoảng 4m để ô tô đi được , thuâ ̣n lợi cho viê ̣c vâ ̣n chuyển hàng hóa . Năm 2018, do con đườ ng này đa bi ̣̃ xuống cấp nên các đồng nguyên đơn đa cũ ̀ng nhau góp tiền để sử a chữa , nhưng gia đinh ông D không tham gia mà tự mở mô ̣t

̀

con đườ ng khác để đi lại riêng . Khi ông D mở đườ ng đi riêng , ông D đa lẫ ́p đất , dùng búi che và cây cọ chắn xuống con đường đi chung của 07 hô ̣ gia đinh đồng

̀ nguyên đơn ; gây cản trở viê ̣c đi la ̣i và làm cho các đồng nguyên đơn không có lối đi vào rừ ng để khai thác cây cối , dẫn đến xảy ra tranh chấp . Tranh chấp này đã được UBND xa YT, huyê ̣̃

n V hòa giải nhiều lần nhưng không thành .

Về nguồn gốc đất: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình giải quyết vụ án , đa ̣i diê ̣n chinh quyền đi ̣a phương và những ngườ i dân sống

́

lâu năm ta ̣i xa Y T, huyê ̣̃

n V đều xác định lối đi chung hiện nay đang tranh chấp giữa đồng nguyên đơn và đồng bị đơn trước kia là không có , chỉ có một khe nước gần lối đi hiê ̣n nay đang tranh chấp . Trướ c kia, ngườ i dân vẫn đi la ̣i vào rừ ng theo khe nước đó (gọi là khe Phụ nữ ), khe nướ c này rất nhỏ và hiê ̣n nay gia đinh ông T

̀ đa đẵ ́p mô ̣t con đâ ̣p chắn ngang khe .

Về trình tự , thủ tục cấp giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2: Trên cơ sở xem xét hồ sơ , tài liệu lưu trữ do Chi nhánh Văn phòng đăng lý đất đai huyê ̣ n V cung cấp và căn cứ các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về đất đai, UBND V khẳng định về căn cứ pháp lý : Trình tự, thẩm quyền cấp giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2 được thực hiê ̣n theo đúng quy trinh Luâ ̣t Đất đai năm 2003.

̀

Về cơ sở thực tiễn : Thử a đất được trich đo thực tế ta ̣i thờ i điểm cấp giấy

́

chứ ng nhâ ̣n QSDĐ số : CH00023 cấp ngày 30-6-2010 vớ i tổng diê ̣n tich 10.920m2

́ là đất rừng sản xuất. Nguồn gốc sử dụng đất do UBND xa YT xác nhận.̃

Kết quả xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ thể hiê ̣n lối đi chung hiê ̣n nay đang tranh

chấp có diê ̣n tich là 188m2. Cụ thể như sau : Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thi ̣ A là:

́ 5,04m; phía Đôn g giáp đất ông Nguyễn Văn T là: 2,04m + 22,90m + 12,44m + 5,90m = 43,28m; phía Tây giáp đất anh Nguyễn Văn Đlà: 6,12m + 8,38m + 4,78m+4,47m + 4,65m + 3,64m + 4,86m + 4,20m =41,1m.

Lối đi hiê ̣n nay đang tranh chấp không nằm trong giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ của hộ gia đình ông T mà nằm trong giấy chứng nhậ n QSDĐ của gia đ ình ông D (là anh Đông và chị V 2).

Như vâ ̣y , viê ̣c tồn ta ̣i mô ̣t lối đi chung có từ trướ c như lờ i khai của đồng

nguyên đơn là không đúng thự c tế . Quá trình giải quyết vụ án , đồng nguyên đơn không cung cấp được chứ ng cứ chứ ng minh có xác nhâ ̣n của chinh quyền đi ̣a

́ phương là lối đi hiê ̣n nay đang tranh chấp đã có từ lâu . Từ những căn cứ thực tế nêu trên, đủ cơ sở khẳng định không có sự tồn tại , hiê ̣n hữu của con đườ ng mòn là lối đi chung hiê ̣n đang tranh chấp , đa đượ̃

c các hô ̣ gia đinh sử dụng ổn đi ̣nh , lâu

̀ dài, liên tục từ năm 1996 cho đến nay.

Từ những nội dung trên, thấy rằng Toà án nhân dân huyện V không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về v iê ̣c buô ̣c đồng bị đơn ông D phải hót đất và dỡ bỏ rào bằng cây co ̣ để trả la ̣i cho các đồng nguyên đơn hiê ̣n tra ̣ng lối đi chung như ban đầu có diê ̣n tich 188m2 là có căn cứ.

́

Xét yêu cầu kháng cáo của đồng nguyên đơn ông T, bà L đưa ra cho rằng: Phần diện tích đất có tranh chấp 188m2 là lối đi chung của 07 hộ gia đình đồng nguyên đơn. Việc UBND huyện V cấp đất cho anh Đ, chị V2 đã cấp chồng lên lối đi chung này. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo ông T, bà L và các đồng nguyên đơn không xuất trình được chứng cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ nên yêu cầu này của người kháng cáo không có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị L không được chấp nhận nên các đồng nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2020/DS-ST ngày 10-12-2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 203 của Luâ ̣t Đất đai 2013; khoản 1 Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự ; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thườ ng vụ Quố c hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu , miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử dụng án phí, lê ̣ phi Tòa án.

́

1.1. Không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của đồn g nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị L ; ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị H1; bà Nguyễn Thi ̣ A ; anh Vũ Anh S và chị Nguyễn Thị Kiều O ; anh Nguyễn Văn L1 và chị Cao Thi ̣ N1; anh Nguyễn Văn L 2 và chị Trần Thi ̣ N 2; anh Lương Xuân N3 và chị Nguyễn Thị L3 về viê ̣c yêu cầu:

- Ông Nguyễn Văn D phải hót đất và dỡ bỏ rào bằng cây cọ để trả lại cho các đồng nguyên đơn hiê ̣n tra ̣ng lối đi chung như ban đầu

. Diê ̣n tich lối đi chung là

́ 188m2. Cụ thể như sau : Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thi ̣ A là: 5,04m; phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn T là: 2,04m + 22,90m + 12,44m + 5,90m = 43,28m; phía Tây giáp đất anh Nguyễn Văn Đ là: 6,12m + 8,38m + 4,78m+4,47m + 4,65m + 3,64m + 4,86m + 4,20m =41,1m.

- Không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của đồn

g nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thi ̣ L ; ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị H 1; bà Nguyễn Thi ̣ A ; anh Vũ Anh S và chị Nguyễn Thị Kiều O ; anh Nguyễn Văn L1 và chị Cao Thi ̣ N1; anh Nguyễn Văn L 2 và chị Trần Thi ̣ N 2; anh Lương Xuân N3 và chị Nguyễn Thị L3 về viê ̣c yêu cầu hủy giấy chứ ng nhâ ̣n QSDĐ số : CH00023 ngày 30-6-2010 do UBND huyê ̣n V cấp cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Lương Thi ̣ Thúy V 2.

1.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Các đồng nguyên đơn phải chi ̣u 300.000 đồng án phi dân sự sơ thẩm nh ưng

́ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai số: AA/2017/0003558 ngày 07-5-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Các đồng nguyên đơn đa nô ̣̃ p đủ án phi dân sự sơ thẩm .

́

2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

- Đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai số: AA/2017/0005411 ngày 29-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ