vanban.org

Bản án 05/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 23/04/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326 2016 U TVQH 14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nh n kháng cáo của Nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ, bà Đ o Thị L và Chấp nh n một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L, sửa bản án dân sự sơ th m số 90/2020/DS-ST, ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T về nghĩa vụ trả nợ như sau: Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: ôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm Hữu Đ, Đào Thị L - Nguyễn Văn L, Hà Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326 2016 U TVQH 14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/DS-PT
Ngày 25-3-2021
“V/v Tranh chấp h p ng vay
tà s n và kiện ò tà s n”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Hồng Thắng.

Các Thẩm phán:

Ông Hồ Thanh Sơn

Ông Ma Ngọc Trung

- Thư ký phiên tòa: Quan Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang: Bà Ngô Thị Vỹ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 24 và 25 tháng 3 năm 2021 tại Hội trường xét xử tầng 2 - Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang tiến hành xét xử ph c th m công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 51/2020/TLPT-DS, ng y 10 tháng 11 năm 2020 về việc: "Tranh chấp h p ng vay tài s n và kiện ò tà s n”.

Do bản án dân sự sơ th m số: 90/2020/DS-ST, ngày 28 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc th m số: 02/2021 QĐ-PT, ng y 09 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên ơn:

- Ông Phạm Hữu Đ, sinh năm 1954; Có mặt tại phiên tòa;

- Bà Đ o Thị L, sinh năm 1956; Có mặt tại phiên tòa;

Cùng địa chỉ: Số nh 409, tổ 3 (Tổ 5 cũ), phường P, th nh phố T, tỉnh Tuyên Quang;

Người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L: Ông Đ m Quốc C- Lu t sư Công ty Lu t Q thuộc Đo n lu t sư tỉnh Tuyên Quang; Có mặt tại phiên tòa;

Địa chỉ: Khu dân cư A, tổ 17 (tổ 23 cũ) phường P, th nh phố T, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bị ơn:

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964; Có mặt tại phiên tòa;

- Bà H Thị Thu H, sinh năm 1963; có đơn xin xét xử vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Số nh 415, tổ 16, phường P, th nh phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Hà Thị Thu H: Ông Nguyễn Ngọc K- Lu t sư Văn phòng Lu t sư thuộc Đo n Lu t sư th nh phố H Nội; Có mặt tại phiên tòa;

Địa chỉ: Phòng 27.8 Tòa nh M5, số 91 Nguyễn Chí T, phường L, qu n Đ, th nh phố H Nội.

* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ, bà Đ o Thị L v bị đơn ông Nguyễn Văn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ và bà Đào Thị L tr nh ày:

Xuất phát từ mối quan hệ thân thiết v l m ăn kinh doanh với nhau, nên ông Nguyễn Văn L, cùng vợ l b H Thị Thu H có vay tiền của ông Phạm Hữu Đ và vợ ông Đ là bà Đ o Thị L từ năm 2012. Đến sáng ng y 09 11 2017, ông bà L – H đến nhà ông b Đ- L đối chiếu công nợ những khoản vay trước v kết quả đối chiếu tính đến ng y 09 11 2017 ông L, bà H còn nợ của vợ chồng ông Đ, bà L số tiền 1.050.000.000 đồng (Một tỷ không trăm năm mươ tr ệu ng), ông bà L – H đã viết Giấy vay tiền với ông b Đ- Ltại nh ông b Đ - L, thời hạn trả tiền l 01 tháng (ng y 09 12 2017), giấy vay tiền không ghi lãi suất có chữ ký của hai vợ chồng ông L và bà H, người l m chứng l ông Đ o Văn P (tổ trưởng tổ 5). Đến chiều cùng ng y 09/11/2017, ông bà L – H lại đến nh ông b Đ- L hỏi vay số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ ha trăm tr ệu ng) v thế chấp 01 Hồ sơ nh đất số 396, do U ND thị xã Tuyên Quang cấp ng y 30 11 1990 tên chủ hộ Nguyễn Văn L, ông L trình b y do Hồ sơ nh đất n y không thể vay được tiền Ngân h ng do không đủ điều kiện. Ông L cam kết nếu vợ chồng ông L không trả được tiền thì sẽ có trách nhiệm l m thủ tục giao nh , đất n y cho vợ chồng ông Đ. Do v y ông b Đ- L đã đồng ý cho vợ chồng ông L, bà H vay số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ ha trăm tr ệu ng), ông bà L – H đã ký Giấy vay tiền, thời hạn trả tiền l ng y 01 7 2018, giấy vay tiền không ghi lãi suất, có chữ ký v chứng kiến của ông Đ o Văn P là tổ trưởng tổ 5 (nay l tổ 3, phường P). Đến nay cả hai khoản tiền trên đều đã quá hạn thanh toán, đã nhiều lần ông b Đ- L yêu cầu ông bà L – H trả nợ nhưng ông bà L – H mới chỉ trả được số tiền gốc 50.000.000 đồng (Năm mươ tr ệu ng). Như v y tính đến nay, ông bà L – H còn nợ của vợ chồng ông b Đ- L số tiền 2.200.000.000 đồng (Ha tỷ ha trăm tr ệu ng) được thể hiện tại 02 Giấy vay tiền cùng ng y 09 11 2017. Nay ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L khởi kiện yêu cầu To án giải quyết, buộc ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H phải trả cho ông b tổng số tiền đã vay l 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ ha trăm tr ệu ng) v tiền lãi tính từ ng y 09 11 2017 với mức lãi suất l 1,666%/tháng.

* Tạ ơn yêu cầu ph n tố, b n tự kha , b ên b n hoà g , bị ơn ông Nguyễn Văn L và bà Hà Thị Thu H trình bày:

Xuất phát từ mối quan hệ l anh em kết nghĩa từ năm 2012, vợ chồng ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H có vay v trả tiền cho vợ chồng ông Phạm Hữu Đ, bà Đ o Thị L. Tính từ đầu năm 2015 đến ng y 09 11 2017, ông bà L – H đã vay của ông b Đ- L với tổng số tiền l 1.050.000.000 đồng (Một tỷ không trăm năm mươ tr ệu ng) để hỗ trợ hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH một th nh viên L – H do ông Nguyễn Văn L là Giám đốc. Sáng ng y 09 11 2017, b Đ o Thị L mang đến nhà vợ chồng ông L 01 Giấy vay tiền đã được đánh máy sẵn, nội dung: Vợ chồng ông L vay khoản tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ ha trăm tr ệu ng). Thời hạn trả tiền ngày 01/7/2018 và bà L nói “Đây là tổng số t ền mà v ch ng cô chú vay từ năm 2015 cho ến nay ã tổng h p lạ , cô chú ký xác nhận cho anh chị”. Do hôm đó gia đình ông bà L – H có b n l m giỗ v b n nhiều việc nhưng bà L cứ ở đó thuyết phục, cũng do tin tưởng l anh em kết nghĩa nhiều năm nên vợ chồng ông L đã ký xác nh n v o giấy đó, mặc dù vẫn nói với bà L, hiện gia đình có việc nên chưa đối chiếu được. Bà L nói: “Cô chú cứ ký sau ó ố ch ếu lạ và nếu sa anh chị sẽ sửa lạ sau”. Ngay chiều cùng ng y 09 11 2017, khoảng 14 giờ 30 ph t, ông L và bà H mang sổ sách sang nhà ông b Đ- L để đối chiếu lại các khoản vay từ năm 2015 đến ng y 09 11 2017 thì tổng số tiền các lần vay còn nợ l 1.050.000.000 đồng (Một tỷ không trăm năm mươ tr ệu ng), chứ không phải 1.200.000.000 đồng (Một tỷ ha trăm tr ệu ng) như sáng bà L đã mang Giấy sang để vợ chồng ông L ký xác nh n. Kết quả đối chiếu được thể hiện tại Giấy biên nh n được ký kết giữa b Đ o Thị L và Nguyễn Văn L (ký với tư cách l Giám đốc Công ty TNHH L-H), với các lần vay, cụ thể như sau:

- Ngày 10/01/2015, vay bác L - Đ số tiền: 100 triệu đồng;

- Ngày 29/01/2015, vay bác L - Đ số tiền: 100 triệu đồng;

- Ngày 16/4/2015, vay bác L - Đ số tiền: 100 triệu đồng;

- Ngày 17/5/2015, vay bác L - Đ số tiền: 50 triệu đồng;

- Ngày 25/7/2015, vay bác L - Đ số tiền: 50 triệu đồng;

- Ngày 23/02/2016, vay bác L - Đ số tiền: 100 triệu đồng;

- Ngày 01/3/2017, vay bác L - Đ số tiền: 150 triệu đồng;

- Ngày 06/03/2017, vay bác L - Đ số tiền: 100 triệu đồng;

- Ngày 27/03/2017, vay bác L - Đ số tiền: 100 triệu đồng;

- Ngày 11/8/2017, vay bác L - Đ số tiền: 100 triệu đồng;

- Ngày 06/9/2017, vay bác L - Đ số tiền: 100 triệu đồng

Giấy biên nh n n y chỉ có 01 bản gốc do bà L giữ, còn vợ chồng ông L giữ 01 bản phô tô, có dấu sao y bản chính. Đến khoảng 17 giờ 30 ph t cùng ng y 09/11/2017, bà L lại đến nh ông L v đề nghị thay đổi giấy biên nh n, nghĩa l không dùng Giấy ký biên nh n với tư cách Công ty TNHH L – H vay tiền nữa m thay v o đó l giấy ký cá nhân vợ chồng ông L, bà H, bản n y bà L đã đánh máy sẵn với nội dung như Giấy ký tư cách Công ty trước đó nên ông L và bà H đã ký, nhưng yêu cầu bà L phải huỷ 02 Giấy vay tiền ký v o buổi sáng số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ ha trăm tr ệu ng) nhưng bà L trả lại cho ông L 01 bản gốc, bà L lý giải: “Bà chỉ mang 01 b n gốc theo, hơn nữa G ấy vay t ền 1.200.000.000 ng (Một tỷ ha trăm tr ệu ng) ký buổ sáng không có ngườ làm chứng nên cô chú cứ yên tâm anh chị là ngườ tử tế không lừa cô chú âu. Còn G ấy vay t ền 1.050.000.000 ng vừa ký chị lấy chữ ký của ngườ làm chứng thì mớ có g á trị pháp lý”. Từ đó cho đến nay, vợ chồng ông L đã nhiều lần trả nợ cho ông bà L - Đ, tổng cộng số tiền trả l 580.077.600 đồng, cụ thể các lần:

- Ng y 31 12 2017, trả tiền vay gốc anh Đ đến lấy: 50.000.000 đồng;

- Ngày 13/02/2018, bà H trả khoản tiền vay gốc cho chị L: 45.000.000 đồng;

- Ngày 04/4/2018, L trả tiền vay cho chị L nộp HXH cho T: 4.077.600 đồng;

- Ngày 10/7/2018, bà H trả khoản tiền vay gốc cho chị L: 120.000.000 đồng;

- Ng y 03 7 2018, trả tiền vay (anh Đ đến lấy tiền đi du lịch): 5.000.000 đồng;

- Ng y 11 7 2018, trả tiền vay (chị L đến lấy): 3.000.000 đồng;

- Ngày 12/7/2018, bà H trả tiền vay gốc (chị L lấy): 50.000.000 đồng;

- Ngày 01/8/2018, L chuyển khoản trả tiền vay v o t i khoản tên Đ: 20.000.000 đồng;

- Ngày 08/8/2018, L chuyển khoản trả tiền vay v o t i khoản tên Đ: 20.000.000 đồng

- Ngày 16/8/2018, T chuyển khoản trả tiền vay v o t i khoản tên Đ: 80.000.000 đồng

- Ngày 23/8/2018, bà H chuyển khoản trả tiền vay v o t i khoản tên Đ: 50.000.000 đồng

- Ngày 29/9/2018, L trả chị L nh n: 2.000.000 đồng

- Ngày 20/10/2018, H trả chị L nh n: 5.000.000 đồng;

- Ngày 24/12/2018, H trả chị L nh n: 2.000.000 đồng

- Ngày 31/12/2018, L trả chị L nh n: 2.000.000 đồng;

- Ngày 02/02/2019, H trả tiền vay gốc chị L nh n: 20.000.000 đồng;

- Ngày 28/02/2019, H trả tiền vay gốc chị L nh n: 12.000.000 đồng;

- Ngày 08/7/2019, H trả tiền vay gốc chị L nh n: 50.000.000 đồng;

- Ngày 06/11/2019, H trả tiền vay gốc chị L nh n: 10.000.000 đồng.

Thực tế ông Đ o Văn P không phải l người trực tiếp chứng kiến việc các bên giao nh n tiền với nhau, do v y 02 Giấy vay tiền cùng ng y 09 11 2017 l không có giá trị pháp lý. Mặt khác, số tiền vay 1.200.000.000đồng (Một tỷ ha trăm tr ệu ng) là không có th t mặc dù có chữ ký của vợ chồng ông L, bà H. Do bị lợi dụng lòng tin nên ông Đ bà L đã giữ lại 01 bản gốc Giấy vay tiền ng y 09 11 2017 (ký buổi sáng) để mang ra To kiện vợ chồng ông L. Thực tế nếu có khoản vay 1.200.000.000 đồng (Một tỷ ha trăm tr ệu ng) n y thì tại sao ngày 11/11/2017, ông Đ không viết biên nh n khoản tiền n y m chỉ nói tới khoản tiền 1.050.000.000 đồng (Một tỷ không trăm năm mươ tr ệu ng) v 01 Hồ sơ nh đất mang tên ông Nguyễn Văn L do ông Đ, bà L đang giữ. Tại iên bản đối chiếu công nợ giữa 02 bên ng y 30 6 2019 ông b Đ- Lcũng không nói tới khoản tiền 1.200.000.000 đồng n y. Do v y ông L, bà H chỉ thừa nh n vay khoản tiền 1.050.000.000 đồng của ông Đ, bà L, khoản tiền n y vợ chồng ông L cũng đã trả th nh nhiều lần cho vợ chồng ông Đ tổng tạm tính l 580.000.000 đồng. Hiện ông L, bà H chỉ còn nợ ông Đ, bà L số tiền 470.000.000 đồng v có trách nhiệm trả cho ông Đ bà L số tiền 470.000.000 đồng.

Về Hồ sơ nh đất số 396 mang tên ông Nguyễn Văn L do ông Đ bà L nộp trong hồ sơ vụ án n y. Hồ sơ n y không liên quan đến việc vay v trả tiền giữa hai bên, m thực tế liên quan đến một giao dịch khác đó l : Thoả thu n mượn Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất v nh ở ký kết giữa hai bên để thế chấp cho khoản vay vốn của Công ty TNHH L – H tại Ngân h ng Nông nghiệp v phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh th nh phố T v sau đó vợ chồng ông L đã ho n th nh nghĩa vụ trả nợ với Ngân h ng v nghĩa vụ của bên được mượn t i sản nhưng ông Đ và bà L cố tình không trả Hồ sơ nh đất n y cho vợ chồng ông L. Do v y ông L và bà H đã nộp đơn yêu cầu phản tố đối với ông Đ bà L, buộc ông Đ bà L phải trả hồ sơ nh đất số 396 này cho ông L, bà H.

Ng y 09 7 2020 Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố của ông L và bà H về yêu cầu ông Đ, bà L trả khoản tiền vay l 50.000.000 đồng (vay ng y 25 6 2015).

Vụ án trên đã được Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang xác minh, thu th p tài liệu, chứng cứ; hòa giải không th nh v đã đưa vụ án ra xét xử. Tại bản án dân sự sơ th m số: 90/2020/DS-ST, ngày 28/9/2020 Tòa án nhân dân thành phố T đã Quyết định:

1. Căn cứ: Các Điều 26; 35; 39; 147; 184; 228; 266; 271; 273 ộ lu t tố tụng dân sự; Các Điều 305; 429; 463; 468; ộ lu t dân sự; Nghị quyết số 326 2016 U TVQH14 ng y 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

2. Xử: Chấp nh n một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L.

- uộc ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L số tiền 877.440.000 đồng

Chia theo phần: Ông L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Đ, bà L số tiền 438.720.000 đồng.

Bà H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Đ, bà L số tiền 438.720.000 đồng.

3. Công nh n sự thỏa thu n giữa các đương sự về việc:

- Ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L tự nguyện thanh toán cho ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H số tiền nợ gốc l 50.000.000 đồng v tiền lãi 9.800.000 đồng. Tổng cộng cả gốc v lãi l 59.800.000 đồng.

Chia theo phần: Ông Phạm Hữu Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H số tiền 29.900.000 đồng.

Bà Đ o Thị L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H số tiền 29.900.000 đồng.

- Ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L tự nguyện trả cho ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H 01 Hồ sơ nh đất số 396 QĐ/UB do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 30/11/1990 mang tên Nguyễn Văn L.

4. Về bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu của nguyên đơn:

Ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L tổng số tiền 877.440.000 đồng, trừ đi khoản tiền m ông Đ và bà L có nghĩa vụ thanh toán cho ông L và bà H số tiền 59.800.000 đồng. Số tiền còn lại ông L và bà H phải thanh toán cho ông Đ, bà L là 817.640.000 đồng. Chia theo phần ông L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Đ, bà L số tiền 408.820.000 đồng. Bà H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Đ, bà L số tiền 408.820.000 đồng.

Kể từ ngày b n án có h ệu lực pháp luật và ngườ ư c th hành án có ơn yêu cầu th hành án, nếu ngườ ph th hành án chậm th hành kho n t ền trên thì còn ph tr lã ố vớ số t ền chậm tr tương ứng vớ thờ g an chậm tr tạ thờ ểm thanh toán theo quy ịnh tạ Kho n 2 Đ ều 468 Bộ luật dân sự.

Tại Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 03 2020 QĐ-SCBSBA ngày 10 10 2020 đã sửa chữa, bổ sung ản án số 90/2020/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2020 của To án nhân dânth nh phố T như sau:

“Bà H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Đ, bà L số tiền 438.720.000 đồng. Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Đ và bà L về việc buộc ông L và bà H thanh toán khoản vay 1.200.000.000 đồng.”

Ng y 12 tháng 10 năm 2020 Tòa án nh n được đơn kháng cáo của ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L, đơn ghi ng y 10 tháng 10 năm 2020 có nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang chấp nh n giấy vay tiền ghi ngày 09/11/2017 với số tiền vay l 1.200.000.000 đồng; ông Đ và bà L không phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông L và bà H 01 hồ sơ nh đất số 396 QĐ U do U ND thị xã T cấp ngày 30/11/1990 mang tên Nguyễn Văn L.

Ng y 12 tháng 10 năm 2020 Tòa án nh n được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, đơn ghi ng y 12 tháng 10 năm 2020 có nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nh n trừ số tiền 321.277.600 đồng mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn v o số tiền nợ gốc 1.050.000.000 đồng.

Tại phiên tòa ph c th m, nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L rút 1 phần kháng cáo: rút nội dung “Ông Đ bà L không phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông L và bà H 01 hồ sơ nh đất số 396 QĐ U do U ND thị xã T cấp ngày 30/11/1990 mang tên Nguyễn Văn L”, chỉ còn kháng cáo “Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang chấp nh n giấy vay tiền ghi ngày 09/11/2017 với số tiền vay là 1.200.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi”. Bị đơn ông Nguyễn Văn L r t 1 phần kháng cáo đề nghị Tòa án chấp nh n trừ số tiền 50.000.000 đồng mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn (Ông Đ đã nh n) vào số tiền nợ gốc 1.050.000.000 đồng.

Tại phiên tòa ph c th m, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình b y:

Đối với nội dung bị đơn kháng cáo: Án sơ th m chưa trừ khoản trả gốc 50.000.000 đồng tiền gốc của khoản tiền gốc 1.050.000.000đ; tại phiên tòa, nguyễn đơn ông Phạm Hữu Đ đã thừa nh n ông được nh n khoản tiền này từ bà Hà Thị Thu H (vợ ông L). Do v y, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn, chấp nh n đối trừ thêm 50.000.000đ.

Đối với khoản giấy vay tiền 1.200.000.000 đồng (là phần nguyên đơn kháng cáo): Căn cứ lời khai của các bên đương sự, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Giấy vay tiền 1.050.000.000 đồng và Giấy vay tiền 1.200.000.000 đồng: Đây l 2 khoản vay khác nhau: Khoản vay 1.050.000.000đ là khoản chốt nợ của nhiều lần vay (Không phải là khoản vay mới); khoản 1.200.000.000 đồng là khoản vay mới, thời điểm thanh toán của 02 khoản vay l khác nhau. Căn cứ Điều 463 Bộ lu t dân sự quy định về Hợp đồng vay tài sản: "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thu n giữa các bên, theo đó bên cho vay giao t i sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đ ng số lượng; chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thu n hoặc pháp lu t có quy định". Từ quy định trên đối chiếu với nội dung vụ án và Giấy vay tiền đã thể hiện: Ngày 09/11 2017 các bên đã xác l p giao dịch dân sự, đối tượng giao dịch là khoản tiền vay 1.200.000.000 đồng.

Đây l giao dịch dân sự không bắt buộc phải công chứng hay chứng thực tại cơ quan Nh nước có th m quyền. Tại thời điểm giao dịch các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không bị ép buộc, không bị cưỡng bức, hoàn toàn tự nguyện và ký vào giấy vay tiền; Giấy vay tiền còn có chữ ký của ông Đ o Văn P l người làm chứng.

Lời khai của nhân chứng ông Đ o Văn P đã thể hiện: Cả 02 gia đình cùng đem 02 giấy vay tiền đến xin chữ ký cùng một thời điểm: Điều đó chứng minh các bên chốt nợ của các khoản vay từ trước bằng giấy 1.050.000.000đ và vay thêm khoản vay mới là 1.200.000.000 đồng là 02 khoản khác nhau (Một khoản là chốt nợ và một khoản là vay mới), 02 bên cùng cầm 02 giấy đến xin xác nh n của tổ trưởng cùng một thời điểm được nhân chứng xác nh n. Như v y có đủ căn cứ để xác định khoản vay 1.200.000.000 đồng là có th t do v y các bên cùng đến xin chữ ký làm chứng vào cả 02 giấy cùng một thời điểm trước sự chứng kiến của người làm chứng.

Căn cứ bị đơn đưa ra cũng như án sơ th m xử không chấp nh n khoản vay 1.200.000.000 đồng với lý do: “Ông P là em bà L nên không khách quan” l không có căn cứ bởi lẽ: 02 giấy vay tiền đều có chữ ký của các bên trước khi ông P ký làm chứng; Nếu ông L, bà H không vay 1.200.000.000 đồng của ông Đ, bà L thì không có việc cả 02 bên cùng cầm 02 giấy đến xin chữ ký của người làm chứng cùng thời điểm; Nếu không vay 1.200.000.000 đồng tại sao tại thời điểm ông L và bà H khi ký giấy 1.050.000.000 đồng không ghi chú thêm “Giấy này thay thế giấy 1.200.000.000 đồng”; Nếu không vay 1.200.000.000 đồng tại sao tại thời điểm thanh toán 50.000.000 đồng bà H trực tiếp cầm, ghi và ký vào tờ giấy vay tiền 1.200.000.000 đồng nội dung “đã thanh toán 50.000.000 đồng” vào mặt sau của Giấy 1.200.000.000 đồng không có ý kiến hoặc hủy bỏ tại thời điểm ghi. Tại lời trình bày của bị đơn cho rằng: “Không ể ý nên mới ghi vào mặt sau của giấy 1.200.000.000 ng”l không có căn cứ pháp lý và không có giá trị để chứng minh.

Nguyên đơn - ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L nhất trí lời trình b y của người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ông Đ bà L thừa nh n các khoản tiền b đã nh n của ông bà L – H trả số tiền l 470.077.600 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình b y:

Nguyên đơn không có tài liệu nào chứng minh việc bị đơn còn nợ số tiền 1.200.000.000 đồng mà chỉ có căn cứ để chứng minh nợ 1.050.000.000 đồng đã hết thời hạn vay nhưng không có t i liệu chứng minh việc ông Đ, bà L đòi 1.200.000.000 đồng. Chỉ có chứng cứ để chứng minh ông Đ, bà L đòi số tiền 1.050.000.000 đồng. Cùng ngày 09/11/2017 l p 02 giấy vay tiền; Ngày 11 11 2017 nguyên đơn có tự viết 01 giấy có nội dung “Mượn 01 hồ sơ nh đất để bảo đảm cho số tiền mặt là 1.050.000.000 đồng và ngày 20/9/2018 hai bên l p giấy gia hạn và cam kết nội dung “Mượn 01 giấy nh đất để thế chấp vay ngân hàng 1.050.000.000đ”. Chỉ thế chấp nh đất cho khoản vay 1.050.000.000 đồng, tại giấy ghi “Lãi thực 2018” hai bên cùng thừa nh n lãi tính đến 6/2019 tiền lãi còn nợ là 613.022.000 đồng và cộng với tiền gốc còn nợ là 1.000.000.000 đồng tổng còn nợ 1.613.000.000 đồng đóng khung, do v y bị đơn chỉ vay 01 khoản 1.050.000.000 đồng không vay 1.200.000.000 đồng và lãi xuất là 2.000 đồng/ ngày số tiền 613.000.000 đồng là lãi của một khoản vay.

Theo khoản 1 Điều 465 Bộ lu t dân sự “Nghĩa vụ của bên cho vay giao tài s n ầy ủ, úng ố tư ng, chất lư ng, số lư ng theo H p ng và ph i thể hiện thời g an, ịa ểm”. Bị đơn không thừa nh n đã được giao tiền 1.200.000.000 đồng, không có xác nh n nào là bị đơn đã nh n đủ tiền. Do v y không có căn cứ chấp nh n kháng cáo của nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang chấp nh n giấy vay tiền ghi ngày 09/11/2017 với số tiền vay l 1.200.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc th m xem xét trừ khoản trả gốc 50.000.000 đồng gốc ngày 08/07/2019 vào khoản nợ 1.050.000.000 đồng cho bị đơn;

Bị đơn ông Nguyễn Văn L nhất trí nội dung người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đã trình b y v đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trừ thêm khoản trả 50.000.000 đồng nợ gốc vào khoản nợ 1.050.000.000 đồng cho bị đơn;

kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa ph c th m:

Về việc chấp hành pháp lu t tố tụng: Th m phán đã chấp h nh đ ng các quy định của Bộ lu t tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc th m, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đ ng quy định của Bộ lu t tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đ ng các quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ lu t Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Hữa Đồng, bà Đ o Thị L và bị đơn ông Nguyễn Văn L là hợp lệ trong hạn lu t định.

Về nội dung:

Đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L về đề nghị giấy vay tiền 1.200.000.000 đồng:

Căn cứ lời khai của các bên đương sự, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Giấy vay tiền 1.050.000.000 đồng và Giấy vay tiền 1.200.000.000 đồng đều do ông L, bà H vay tiền của ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L: Đây là 2 khoản vay khác nhau: Khoản vay 1.050.000.000 đồng là khoản chốt nợ của nhiều lần vay (Không phải là khoản vay mới); khoản 1.200.000.000 đồng là khoản vay mới, thời điểm thanh toán của 02 khoản vay là khác nhau.

Tại thời điểm giao dịch các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không bị ép buộc, không bị cưỡng bức, hoàn toàn tự nguyện, các bên cùng ký vào giấy vay tiền và cùng đến xin chữ ký làm chứng vào cả 02 giấy cùng một thời điểm. Bị đơn không thừa nh n đã nh n số tiền 1.200.000.000 đồng, trong giấy không ghi “Đã nh n đủ tiền”, giấy vay ghi số tiền 1.200.000.000 đồng l p trước, do chốt các khoản vay trước đó, buổi chiều đối chiếu lại xác định l 1.050.000.000 đồng, nên đã viết lại giấy vay ghi số tiền 1.050.000.000 đồng v yêu cầu ông Đ bà L trả tờ giấy ghi vay 1.200.000.000 đồng nhưng ông b Đ- Lnói không cần vì chưa xác nh n. Nội dung bị đơn đưa ra không có căn cứ chứng minh giấy ghi 1.050.000.000 đồng viết sau v thay thế giấy ghi vay 1.200.000.000 đồng.

Do v y, có căn cứ chấp nh n kháng cáo của nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang chấp nh n giấy vay tiền ghi ngày 09/11/2017 với số tiền vay là 1.200.000.000 đồng.

Đối với kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L về đề nghị đối trừ thêm khoản tiền 50.000.000 đồng trả ngày 31/12/2017 ông Đ đã nh n vào khoản vay 1.050.000.000 đồng, tại phiên tòa ông Đ đã thừa nh n được nh n số tiền 50.000.000 đồng từ bà H, kháng cáo của bị đơn l có căn cứ. Do v y, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nh n yêu cầu kháng cáo trên của bị đơn.

Số tiền 50.000.000 đồng trả ng y 08 7 2019 đã được cấp sơ th m đối trừ vào khoản vay gốc của số tiền vay 1.050.000.000 đồng nên không xem xét.

Đối với số tiền 20.000.000 đồng ghi trả ngày 02/02/2019 và số tiền 10.000.000 đồng ghi trả ngày 06/11/2019 bà L không được ký và không thừa nh n, do v y không có căn cứ để chấp nh n.

Tại phiên tòa bà L thừa nh n các khoản tiền b đã nh n của ông bà L – H trả phù hợp như nội dung biên bản làm việc ngày 28/7/2020 số tiền là 470.077.600 đồng. Tuy nhiên, bản án sơ th m lại căn cứ vào phần theo dõi ghi “lãi thực năm 2018” xác định số tiền nguyên đơn đã nh n là 396.000.000 đồng không căn cứ vào các khoản tiền mà Loan thừa tại biên bản làm việc nên đã l m ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Do đó cần xem xét lại các khoản tiền mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn, cụ thể: Tiền gốc là 100.000.000 đồng và thêm khoản tiền m nguyên đơn thừa nh n là 470.077.600 đồng để đối trừ nghĩa vụ trả nợ (gốc và lãi) giữa các đương sự.

Từ những phân tích nêu đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 308, 309 BLTTDS, chấp nh n kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L, chấp nh n một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L, sửa bản án sơ th m số 90/2020/DS-ST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T theo hướng phân tích trên.

- Về án phí: Xác định lại nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được th m tra tại phiên tòa v căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định:

. Về nội dung kháng cáo:

Đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L về đề nghị Hội đồng xét xử phúc th m chấp nh n giấy vay tiền 1.200.000.000 đồng đồng, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả 1.200.000.000 đồng (không tính lãi):

Căn cứ lời khai của các bên đương sự, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: tồn tại 02 giấy vay tiền: Giấy vay tiền 1.050.000.000 đồng và Giấy vay tiền 1.200.000.000 đồng. Với các tài liệu có trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Đây l 2 khoản vay khác nhau: Khoản vay 1.050.000.000 đồng là khoản chốt nợ của nhiều lần vay (không phải là khoản vay mới); khoản 1.200.000.000 đồng là khoản vay mới, thời điểm thanh toán của 02 khoản vay là khác nhau, phù hợp với nội dung ông L bà H ban đầu giấy chốt khoản nợ cũ (giấy vay tiền 1.050.000.000 đồng) ghi l Công ty vay, cụ thể: Giấy biên nh n được ký kết giữa b Đ o Thị L và Nguyễn Văn L (ký với tư cách l Giám đốc Công ty TNHH L - H), nhưng ông Đ bà L không nhất trí nên ông L bà H đánh máy lại ghi với tư cách cá nhân ông L bà H vay. Tại thời điểm giao dịch các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không bị ép buộc, không bị cưỡng bức, hoàn toàn tự nguyện, các bên cùng ký vào giấy vay tiền và cùng đến xin chữ ký làm chứng vào cả 02 giấy cùng một thời điểm. Căn cứ của bị đơn đưa ra l không thừa nh n đã nh n số tiền 1.200.000.000 đồng, trong giấy không ghi “Đã nh n đủ tiền”. Nội dung bị đơn đưa ra không có căn cứ chứng minh giấy ghi 1.050.000.000 đồng viết sau v thay thế giấy ghi vay 1.200.000.000 đồng.

Như v y có đủ căn cứ để xác định khoản vay 1.200.000.000 đồng là có th t, cần xem xét chấp nh n kháng cáo của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L r t một phần kháng cáo, (Nội dung không Đ ý trả hồ sơ nh đất), ông Đ bà L tự nguyện trả cho ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H 01 Hồ sơ nh đất số 396-QĐ/UB do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ng y 30 11 1990 mang tên Nguyễn Văn L (Hai bên thỏa thu n trả ngay tại phiên tòa), Hội đồng xét xử cần chấp nh n.

Đối với kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L: Khi thực hiện việc vay và trả tiền lãi giữa hai bên ông b Đ- L có tính lãi suất cụ thể của từng tháng đưa cho ông bà L – H (BL 175, 176), khi ông bà L – H trả lãi thì ông b Đ- L có ghi số tiền lãi đã trả và chưa trả. Còn đối với số tiền 130.000.000 đồng ông bà L – H đã trả gốc cho số tiền 1.050.000.000 đồng trong các ngày 31/12/2017 số tiền 50.000.000 đồng; ngày 02/02/2019 số tiền 20.000.000 đồng, ngày 08/7/2019 số tiền 50.000.000 đồng, ngày 06/11/2019 số tiền 10.000.000 đồng.

Xét thấy: Số tiền số tiền 50.000.000 đồng trả ngày 31/12/2017, tại phiên toà ông Đ thừa nh n có nh n tiền và ký vào giấy theo dõi trả nợ, ông Đ nhất trí trừ vào tiền gốc ở khoản vay 1.050.000.000 đồng nên cần chấp nh n. Số tiền 50.000.000 đồng trả ng y 08 7 2019 đã được cấp sơ th m đối trừ vào khoản vay gốc, tại phiên toà ông L cho rằng do nhầm lẫn và thừa nh n là khoản tiền đã được cấp sơ th m đối trừ nên không xem xét. Đối với khoản tiền 20.000.000 đồng ghi trả ngày 02/2/2019 và khoản 10.000.000 đồng ghi trả ngày 06/11/2019, bà L không được ký vào sổ theo dõi trả nợ và không thừa nh n đã nh n hai khoản tiền trên, do v y không có căn cứ để chấp nh n.

Như v y, xác định số tiền gốc mà ông L, bà H còn phải thanh toán cho ông Đ, bà L là 950.000.000 đồng (ở khoản vay 1.050.000.000 đồng).

Tại phiên tòa bà L thừa nh n các khoản tiền b đã nh n của ông bà L – H trả phù hợp như nội dung biên bản làm việc ngày 28/7/2020 số tiền là 470.077.600 đồng. Tuy nhiên, bản án sơ th m lại căn cứ vào phần theo dõi ghi “lãi thực năm 2018” xác định số tiền nguyên đơn đã nh n là 396.000.000 đồng không căn cứ vào các khoản tiền mà bà L thừa tại biên bản làm việc trên đã l m ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Do đó cần xem xét lại các khoản tiền mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn cụ thể: Tiền gốc là 950.000.000 đồng và thêm khoản tiền m nguyên đơn thừa nh n là 470.077.600 đồng để đối trừ nghĩa vụ trả nợ (gốc và lãi) giữa các đương sự.

Tuy nhiên, theo cách tính lãi suất của các bên đối với khoản tiền vay trên không phù hợp với quy định của pháp lu t. Do các bên có thỏa thu n về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất. Vì v y, căn cứ vào khoản 2 Điều 468 Bộ lu t dân sự để tính lại khoản tiền lãi của số tiền gốc 950.000.000 đồng, với mức lãi suất l 10% năm = 0,83% tháng. Như v y, thời gian tính lãi suất từ tháng 01 năm 2018 đến ng y 28 tháng 9 năm 2020 l 32 tháng 28 ngày = 259.679.300 đồng. Đối với khoản tiền lãi suất do nguyên đơn đã nh n là 470.077.600 đồng (Bốn trăm b y mươ tr ệu không trăm b y mươ b y nghìn sáu trăm ng) đã vượt quá lãi suất quy định nên phần vượt quá không có hiệu lực. Vì v y, khoản tiền nguyên đơn đã nh n sau khi trừ vào lãi suất phải thanh toán thì được trừ vào khoản tiền gốc (470.077.600 đồng - 259.679.300 đồng = 210.398.300 đồng). Như v y, số tiền gốc của khoản vay 1.050.000.000 đồng mà bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn l 950.000.000 đồng - 210.398.300 đồng = 739.601.700 đồng (B y trăm ba mươ chín triệu sáu trăm l nh một nghìn b y trăm ng).

Tổng số tiền gốc mà bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn l 1.939.601.700 đồng (Một tỷ chín trăm ba mươ chín tr ệu sáu trăm l nh một nghìn b y trăm ng).

Phần bù trừ nghĩa vụ các bên đã thỏa thu n v được ghi nh n ở cấp sơ th m, bên nguyên đơn phải trả cả gốc và lãi cho bị đơn l 59.800.000 đồng;

V y, số tiền gốc mà bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn l : 1.939.601.700 đồng - 59.800.000 đồng = 1.879.801.700 đồng (Một tỷ tám trăm b y mươ chín tr ệu tám trăm l nh một nghìn b y trăm ng).

Chia theo phần: Ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hữu Đ, bà Đ o Thị L số tiền 939.900.850 đồng (Chín trăm ba mươ chín tr ệu chín trăm nghìn tám trăm năm mươ ng).

Bà Hà Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hữu Đ, bà Đ o Thị L số tiền 939.900.850 đồng (Chín trăm ba mươ chín tr ệu chín trăm nghìn tám trăm năm mươ ng).

Bản án dân sự sơ th m số 90/2020/DS-ST, ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T chỉ buộc ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L số tiền 877.440.000 đồng (Chỉ chấp nh n khoản nợ 1.050.000.000 đồng, không chấp nh n khoản nợ 1.200.000.000 đồng) là chưa chính xác. Cần áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ lu t tố tụng dân sự chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L.

Đối với yêu cầu phản tố:

- Nội dung ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H yêu cầu ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L trả cho ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H số tiền nợ gốc l 50.000.000 đồng v tiền lãi 9.800.000 đồng. Tổng cộng cả gốc v lãi l 59.800.000 đồng, các đương sự đã thỏa thu n tại cấp sơ th m l đ ng quy định cần giữ nguyên.

- Ghi nh n sự thỏa thu n: Ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L tự nguyện trả cho ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H 01 Hồ sơ nh đất số 396-QĐ/UB do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ng y 30 11 1990 mang tên Nguyễn Văn L (Hai bên thống nhất, ông Đ bà L trả hồ sơ nh đất số 396- QĐ U cho ông L bà H ngay tại phiên tòa ph c th m), Hội đồng xét xử ph c th m đã trả cho ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H ngay tại phiên tòa 01 Hồ sơ nh đất số 396-QĐ/UB do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 30/11/1990 mang tên Nguyễn Văn L.

Về án phí: Căn cứ Bộ lu t tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Do có sửa về phần nghĩa vụ thanh toán nên án phí dân sự có giá ngạch được sửa lại bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nh n.

Đối với án phí của yêu cầu phản tố của bị đơn đã được cấp sơ th m chấp nh n tại phiên tòa (Ghi nh n sự thỏa thu n tại phiên tòa) nên bị đơn không phải chịu án phí đối với số tiền n y. Nguyên đơn phải chịu án đối với yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nh n, nhưng do ông Đ bà L l người cao tuổi nên được miễn án phí.

Về án phí dân sự ph c th m: Do kháng cáo của các đương sự đều được chấp nh n nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc th m.

Các phần khác của bản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 147, Điều 148, Điều 313 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 357, 463, 466 v Điều 468 của Bộ lu t Dân sự.

Nghị quyết số 326 2016 U TVQH 14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nh n kháng cáo của Nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ, bà Đ o Thị L và Chấp nh n một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L, sửa bản án dân sự sơ th m số 90/2020/DS-ST, ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T về nghĩa vụ trả nợ như sau:

- Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L.

uộc ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L tổng số tiền l 1.939.601.700 đồng (Một tỷ chín trăm ba mươ chín tr ệu sáu trăm l nh một nghìn b y trăm ng). Bù trừ phần nghĩa vụ nguyên đơn ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L phải trả cho bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H l 59.800.000 đồng.

Tổng cộng ông Nguyễn Văn L và bà H Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L số tiền l 1.879.801.700 đồng (Một tỷ tám trăm b y mươ chín tr ệu tám trăm l nh một nghìn b y trăm ng).

Chia theo phần: Ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hữu Đ, bà Đ o Thị L số tiền 939.900.850 đồng (Chín trăm ba mươ chín tr ệu chín trăm nghìn tám trăm năm mươ ng).

Bà H Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hữu Đ, bà Đ o Thị L số tiền 939.900.850 đồng (Chín trăm ba mươ chín tr ệu chín trăm nghìn tám trăm năm mươ ng).

Kể từ kh có ơn yêu cầu thi hành án của ngườ ư c th hành án cho ến khi thi hành xong kho n tiền trên, hàng tháng bên ph i thi hành án còn ph i chịu kho n tiền lãi của số tiền còn ph i thi hành án theo mức lãi suất quy ịnh tại kho n 2 Đ ều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

- Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Hữu Đồng bà Đ o Thị L, ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí dân sự phúc th m.

- Về án phí dân sự có g á ngạch: Bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nh n là:

Ông Nguyễn Văn L phải chịu số tiền 40.197.000 đồng (Bốn mươ triệu một trăm chín mươ b y nghìn ng) án phí dân sự có giá ngạch; Bà Hà Thị Thu H phải chịu số tiền 40.197.000 đồng (Bốn mươ tr ệu một trăm chín mươ b y nghìn ng) án phí dân sự có giá ngạch; Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông L và bà H đã nộp l 1.850.000 đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000364 ngày 08/5/2020 và số 0000494 ngày 09/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T (Chia ra mỗi người được khấu trừ 925.000 đồng). Ông Nguyễn Văn L còn phải nộp 39.272.000 đồng (Ba mươ chín tr ệu ha trăm b y ha nghìn ng) án phí dân sự có giá ngạch; bà Hà Thị Thu H còn phải nộp 39.272.000 đồng (Ba mươ chín triệu hai trăm b y ha nghìn ng) án phí dân sự có giá ngạch.

- Án phí ối với yêu cầu ph n tố: Ông Nguyễn Văn L và bà Hà Thị Thu H không phải chịu án phí. Ông Phạm Hữu Đ và bà Đ o Thị L được miễn án phí đối với yêu cầu phản tố.

Các phần khác của bản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc th m có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án (ngày 25/3/2021).

Trường h p b n án Quyết ịnh ư c th hành theo quy ịnh tạ ều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngườ ư c th hành án, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế th hành án theo quy ịnh tạ các ều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu th hành án ư c thực hiện theo quy ịnh tạ ều 30 Luật thi hành án dân sự./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PH N – HỦ TỌA PHIÊN T A

Cỡ chữ