- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và các điểm a; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HSST Ngày: 19-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Sơn
2. Ông Nguyễn Đình Công
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:
Trần Trung K, sinh ngày 06/3/1986, tại huyện YM, tỉnh NB; nơi cư trú: Xóm C, xã YT, huyện YM, tỉnh NB; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Đình G và bà Nguyễn Thị L; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/01/2020 đến ngày 06/01/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay (có mặt).
Người làm chứng: Ông Phạm Văn C (vắng mặt).
Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn A (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 04/01/2020, tại khu vực ngõ 309, đường QT, thuộc Tổ A, phường TS, thành phố TĐ, tỉnh NB, bị cáo Trần Trung K đang đi bộ ra đường QT, trên tay phải cầm 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, ở giữa vỏ túi nilon bọc ngoài bao thuốc lá và vỏ bao thuốc lá có 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là chất ma túy Methamphetamine (ma túy đá) để sử dụng cho bản thân. Khi thấy Tổ công tác của Công an thành phố Tam Điệp đang đi đến gần, sợ bị phát hiện nên Trần Trung K đã thả bao thuốc lá có túi nilon đựng ma túy xuống đường thì bị tổ công tác phát hiện. Nghi vấn Trần Trung K có liên quan đến ma túy, tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với K. Biết không thể che giấu được, Trần Trung K nhặt bao thuốc lá có túi ni lon chứa ma túy vừa thả xuống đường lên giao nộp và khai nhận chất tinh thể màu trắng được đựng trong túi nilon là ma túy đá, K mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 13 điếu thuốc, 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bên trong lắp 02 sim Viettel, 01 ví màu trắng đen, 01 thẻ căn cước công dân và số tiền 405.000 đồng.
Lấy chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Trung K làm mẫu vật gửi đi giám định (kí hiệu M). Tại bản kết luận giám định số 47/KLGĐ-PC09-MT ngày 6/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận :
“Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3982 (không phẩy ba nghìn chín trăm tám mươi hai) gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Sau khi giám định, số ma túy được hoàn lại là 0,2686 gam đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì cùng với toàn bộ vỏ bao gói trong niêm phong gửi đi giám định.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho bị cáo Trần Trung K (do chị Phạm Thị T là vợ của bị cáo nhận lại theo ủy quyền của bị cáo) chiếc điện thoại di động Nokia bên trong lắp 02 sim Viettel, 01 thẻ căn cước công dân, 01 ví màu trắng đen và số tiền 405.000 đồng do xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 06 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Trung K và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Trung K từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ 04/01/2020.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng, bao gồm:
+ 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 47/KLGĐ-PC09-MT, bên trong có 0,2686 (không phẩy hai nghìn sáu trăm tám mươi sáu) gam chất tinh thể màu trắng, ký hiệu M là ma túy, loại methamphetamine được hoàn lại sau khi gửi mẫu đi giám định và toàn bộ vỏ bao gói trong niêm phong gửi đi giám định;
+ 01 phong bì niêm phong bên trong là 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 13 điếu thuốc, 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x1,5) cm, 01 vỏ phong bì đã bị xé rách một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu của Trần Trung K.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trung K đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo cho rằng bị truy tố là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo nhận tội và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, người làm chứng, người chứng kiến đều có lời khai báo xác định được chứng kiến bị cáo bị công an kiểm tra phát hiện đang cất giữ 01 túi nilon chứa chất ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá), diễn biến sự việc đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 04/01/2020 tại khu vực ngõ B, đường QT, thuộc Tổ A, phường TS, thành phố TĐ, tỉnh NB, bị cáo Trần Trung K đã có hành vi cất giữ 0,3982 (không phẩy ba nghìn chín trăm tám mươi hai) gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi mang chất ma túy trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Khối lượng ma túy Methamphetamine bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Trần Trung K đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép và nhân thân của bị cáo thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội nên cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với chiếc điện thoại di động Nokia, bên trong lắp 02 sim Viettel, 01 thẻ căn cước công dân, 01 ví màu trắng đen, số tiền 405.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho bị cáo là đúng pháp luật.
Đối với số ma túy được hoàn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành; các vỏ bao gói niêm phong, 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 13 điếu thuốc, 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x1,5) cm đều là vật không còn giá trị nên căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng nêu trên.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Trần Trung K khai mua của một người đàn ông lái xe dạng taxi, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được là ai nên không có cơ sở để xử lý.
Bị cáo Trần Trung K bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Trần Trung K 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/01/2020.
3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 47/KLGĐ-PC09-MT và toàn bộ vật chứng bên trong, bao gồm: 0,2686 (không phẩy hai nghìn sáu trăm tám mươi sáu) gam chất tinh thể màu trắng, ký hiệu M là ma túy, loại methamphetamine được hoàn lại sau khi gửi mẫu đi giám định và toàn bộ vỏ bao gói trong niêm phong gửi đi giám định;
+ 01 phong bì niêm phong và các vật chứng bên trong bao gồm: 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 13 điếu thuốc, 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x1,5) cm, 01 vỏ phong bì đã bị xé rách một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu của Trần Trung K.
(Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07/02/2020, giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)
4. Về án phí: Bị cáo Trần Trung K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thành Trung THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |