- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HSST Ngày: 18/02/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phƣơng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Giàng A Chu
2. Ông Lƣờng Văn Vui
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở TAND huyện Mường Ảng mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2020/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-HS, ngày 05/02/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Thị H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1969, nơi sinh: huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: : Bản X, xã MĐ, huyện M, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 2/10; Con ông: Lù Văn P (đã chết) và con bà Lò Thị U, sinh năm 1931; Bị cáo có 09 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Bị cáo có chồng là LòVăn T, sinh năm 1970 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là 03 ngày (từ ngày 17/10/2019 đến ngày 20/10/2019). Ngày 20/10/2019 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị KN – Là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Lò Thị H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 13/10/2019 Lò Thị H từ nhà tại bản X, xã MĐ, huyện M đi lên khu vực chợ Nà Tấu, xã Nà Tấu, huyện Điện Biên để mua đồ, khi đi đến bản Tà Cáng, xã Nà Tấu, huyện Điện Biên, H có gặp, mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên tuổi địa chỉ 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng với giá 100.000đ. Sau khi mua được Heroine H mang về dùng tay cấu chia thành 04 cục nhỏ, gói lại bằng các mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ để dùng chữa bệnh cho vật nuôi. Đến 09 giờ 00 phút , ngày 17/10/2019 Lò Thị H đang ở nhà, tổ công tác Công an huyện Mường Ảng phối hợp cùng Công an xã MĐ tiến hành kiểm tra phát hiện, thu giữ 04 gói Heroine có khối lượng 0,17 gam được gói bằng các mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ tại túi vải được thêu nhiều hoa văn, có khóa Lò Thị H đang đeo trên người.
Theo biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 17/10/2019 của Công an huyện Mường Ảng và Kết luận giám định số 983/GĐ-PC09, ngày 26 tháng 10 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Thị H gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Thị H là: 0,17 gam
- Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 09, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKSMA ngày 15/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện M để xét xử bị cáo Lò Thị H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt Lò Thị H từ 12 đến 14 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy: 0,13gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định và 01 túi vải được thêu nhiều hoa văn, có khóa.
Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo.
Nội dung bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Bản thân bị cáo học hết lớp 2/10, nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình sinh sống tại địa phương chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng cũng như bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng, nội dung bản luận cứ bào chữa cho bị cáo, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Nội dung vụ án:
Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Lò Thị H đã khai và công nhận: Hồi 09 giờ 00 phút ngày 17/10/2019 tại nhà ở của mình thuộc bản X, xã MĐ, huyện M, tỉnh Điện Biên bị cáo Lò Thị H bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 0,17 gam Heroine, mục đích của bị cáo tàng trữ Heroine để chữa bệnh cho vật nuôi. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 05/CT-VKSMA, ngày 15/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo tàng trữ trái phép 0,17 gam heroine đủ định lượng buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 249 BLHS quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine,…, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam".
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho các loại tội phạm gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Thị H được bố mẹ sinh ra và nuôi dưỡng, lớn lên tại bản Hón, xã Ẳng Cang, huyện M, tỉnh Điện Biên, học hết lớp 2/10 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất, năm 1994 kết hôn với anh LòVăn T,sinh năm 1970 và có 03 người con chung. Năm 2003 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Chống người thi hành công vụ” theo bản án số 64/HSST, ngày 08/9/2003, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo vẫn cố ý mua và tàng trữ trái phép 0,17 gam Heroine với mục đích để chữa bệnh cho vật nuôi. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.
Bị cáo với nghề nghiệp làm ruộng, ngoài ra không có thu nhập nào khác, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS: Tịch thu để tiêu hủy: 0,13gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định và 01 túi vải được thêu nhiều hoa văn, có khóa.
Nguồn gốc số ma túy Lò Thị H khai mua của người đàn ông dân tộc Mông không biết tuổi và địa chỉ cụ thể ở đâu, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có đủ cơ sở xác minh làm rõ.
* Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo.
Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù, được trừ 03 (ba) ngày tạm giữ, thời gian phạt tù bị cáo còn phải chấp hành là 11 (mười một) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo có mặt tại Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thi hành án hoặc từ ngày bắt thi hành án.
2. Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS: Tịch thu để tiêu hủy: 0,13gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định và 01 túi vải được thêu nhiều hoa văn, có khóa.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 15/01/2020).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên. - VKSND h.Mường Ảng - Công an h.Mường Ảng - Chi cục THADS h.Mường Ảng - Bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Phƣơng |