vanban.org

Bản án 05/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn H phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lý Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/10/2019. Phạt bổ sung bị cáo Lý Văn H 5.000đ (Năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn H phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN ĐỊNH HÓA
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày 27/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA,TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Đ Thủy.

- Bà Trần Thị Hồng Thúy.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Tân - Thư ký TAND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đại Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2020/HSST ngày 10/01/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS, ngày 14/02/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn H, sinh ngày 07/7/1970.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Tả (nay là xóm HT), xã TD, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Lý Kim T (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1943.

Gia đình bị cáo có 08 anh, chị em. Bị cáo là con thứ 06 trong gia đình.

Có vợ là Phan Thị H, sinh năm 1971 và 01 con, sinh năm 1993.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2019 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên toà).

Người làm chứng:

- Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1980.

Trú tại: Xóm TP (nay là xóm TH), xã TD, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên toà).

2.3 Người chứng kiến:

- Anh Hà Văn D, sinh năm 1971.

Trú tại: Xóm Tả (nay là xóm HT), xã TD, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 17/10/2019, Tổ công tác của Công an huyện Đ phối hợp vớ i Công an xa TD đang làm nhiệm vụ tại khu vực xã TD, huyê ̣̃

n Đi ̣nh Hóa thì nhận được tin báo c ủa quần chúng nhân dân cung cấp tại nhà của Lý Văn H có biểu hiện liên quan đến tội phạm về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra , xác minh thì phát hiện, bắt quả tang Lý Văn H đang bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn Đ. Kiểm tra người H, thu giữ tại túi quần phía sau bên pH của H đang mặc số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), thu giữ tại túi quần bên trái, phía trước H đang mặc 02 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc mầu vàng, bên trong chứa chất bột mầu trắng, nghi là Heroine. Tiến hành kiểm tra người Phạm Văn Đ, tổ công tác thu giữ tại túi áo bên pH, phía trước Đ đang mặc 01 gói nhỏ chất bột mầu trắng, nghi là Heroine. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật. Khám xét khẩn cấp đồ vật, nhà ở của Lý Văn H nhưng không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Cùng ngày, Công an huyện Đ phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên cân xác định 03 gói chất bột mầu trắng nghi là Heroine thu giữ của Lý Văn H và Phạm Văn Đ. Kết quả, 02 gói chất bột mầu trắng nghi là Heroine thu giữ của Lý Văn H kí hiệu là A1 có trọng lượng là: 0,079 (không phẩy không bẩy chín gam); 01 gói chất bột mầu trắng nghi là Heroine thu giữ của Phạm Văn Đ kí hiệu là A2 có trọng lượng là: 0,038 (không phẩy không ba tám gam). Sau đó niêm phong số chất bột mầu trắng nghi là Heroine của H (kí hiệu là A3), của Đ (kí hiệu là A4) và tiến hành trưng cầu giám định.

Kết luận giám định số 1393/KL-KTHS ngày 24/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

“Mẫu chất bột mầu trắng trong mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine; có khối lượng là: 0,079g. Hoàn lại mẫu sau giám định 0,059 (không phẩy không năm chín) gam.

Mẫu chất bột mầu trắng trong mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, loại Heroine; có khối lượng là: 0,038g. Hoàn lại mẫu sau giám định 0,025 (không phẩy không hai năm) gam.

Quá trình điều tra Lý Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai người làm chứng, người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong vụ án.

Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSĐH ngày 10/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lý Văn H về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Bản thân bị cáo không nghiện các chất ma túy. Tuy nhiên, thỉnh thoảng có mua ma túy loại Heroine về sử dụng cho bản thân. Từ đầu năm 2019 đến nay, bị cáo đã 02 lần mua ma túy về dụng cho bản thân. Ngày 17/10/2019 do hám lợi đã có hành vi bán ma túy cho Phạm Văn Đ như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện đã nêu là đúng.

Vị Kiểm sát viên tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm như đã truy tố đối với bị cáo Lý Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lý Văn H phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt Lý Văn H từ 24 đến 30 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (17/10/2019).

Về hình phạt bổ sung: Từ 5 đến 10 triệu đồng, sung quỹ nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong có vỏ bì niêm phong khi bắt quả tang ký hiệu là A5; 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,059 (không phẩy không năm chín) gam Heroine ký hiệu là A3; 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,025 (không phẩy không hai năm) gam Heroine ký hiệu là A4.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) do bị cáo bán ma túy cho Phạm Văn Đ mà có.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo.

Tại phiên toà bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trước khi HĐXX nghỉ nghị án: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh lụân tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định:

Bản thân bị cáo thỉnh thoảng có mua ma túy loại Heroine về sử dụng cho bản thân. Ngày 16/10/2019, H mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã ba Lương Thực, thuộc phố Trung Kiên, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên được 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), H mang về nhà chia nhỏ thành 03 gói nhỏ mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời. Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 17/10/2019, H đang ở nhà thì Phạm Văn Đ đến chơi và hỏi mua Heroine, Đ đưa cho H 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), H cầm tiền cất vào túi quần phía sau bên pH và đưa cho Đ 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc mầu vàng. Đ cầm gói ma túy cất vào túi áo. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 17/10/2019 tổ công tác của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Cân xác định trọng lượng 02 gói chất bột mầu trắng thu giữ được của Lý Văn H và Phạm Văn Đ cụ thể: 02 gói chất bột mầu trắng của Lý Văn H có trọng lượng là 0,079 (không phẩy không bẩy chín gam), được niêm phong trong phong bì gửi giám định kí hiệu A3; 01 gói chất bột mầu trắng của Phạm Văn Đ 0,038 (không phẩy không ba tám gam), được niêm phong trong phong bì gửi giám định kí hiệu A4.

Kết luận giám định số: 1393/KL-KTHS ngày 24/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: “Mẫu chất bột mầu trắng trong mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lượng là: 0,079g; Mẫu chất bột mầu trắng trong mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,038g”.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”

.............................

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.”

Về tính chất, hành vi phạm tội:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi nên bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của nhà nước về các chất gây nghiện. Hành vi bị cáo đã thực hiện đi ngược lại công cuộc đấu tranh phòng chống ma túy của toàn xã hội, xâm phạm đến các điều cấm được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó pH được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Thấy rằng, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng cố ý thực hiện. Vì vậy, cần có hình phạt phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ dài mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và cho xã hội. Đồng thời mới có tác dụng phòng ngừa chung.

Để có thu nhập cho bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi mua ma túy về sử dụng và bán lại cho người nghiện lấy tiền lãi. Do vậy, cần áp dụng bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai đã mua ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch (Không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực ngã ba Lương Thực, thuộc phố Trung Kiên, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với giá 200.000đ. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ và xử lý sau.

Đối với Phạm Văn Đ là người đã mua của Lý Văn H 01 gói ma túy (Heroine) có trọng lượng là 0,038g, chưa đủ định lượng để xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn Đ là đúng quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định và các bì niêm phong hoàn lại sau khi giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) thu giữ khi bắt quả tang do bị cáo bán trái phép ma túy cho Phạm Văn Đ. Đây là số tiền do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có. Do đó, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo là phù hợp, đúng pháp luật và cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn H phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 260; Khoản 1 Điều 268; Khoản 1 Điều 269; Khoản 1 Điều 298; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt bị cáo Lý Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/10/2019.

Phạt bổ sung bị cáo Lý Văn H 5.000đ (Năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (27/02/2020) để bảo đảm thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong có vỏ bì niêm phong khi bắt quả tang ký hiệu là A5; 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,059 (không phẩy không năm chín) gam Heroine ký hiệu là A3; 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,025 (không phẩy không hai năm) gam Heroine ký hiệu là A4.

Tịch thu số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của bị cáo Lý Văn H sung quỹ Nhà nước.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 13/01/2020, giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Tiền theo Ủy nhiệm chi số 01 ngày 13/01/2020 giữa Công an huyện Đ và Kho bạc Nhà nước huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên).

Án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lý Văn H pH chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ