- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh H - phạm tội vi phạm về đều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 05/2020/HS-ST Ngày 07 - 01 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Ngọc Phƣơng.
Ông Nguyễn Văn Trai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Từ Minh Toàn – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 339/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 352/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Anh H, sinh năm 1996, tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: 35 khu phố H, phƣờng H, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hùng Sang và bà Đỗ Thị Chúc; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 24/7/2019.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1989, nơi cƣ trú: 86/1 khu phố T, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Châu Hồ Anh V, sinh năm 1989, nơi cƣ trú: 86/1 khu phố T, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Trần Anh H chƣa có giấy phép lái xe theo quy định. Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 01/3/2017, H điều khiển xe mô tô biển số 61N5-3574 lƣu thông trên đƣờng Thạnh Quý theo hƣớng từ Ủy ban nhân dân xã An Sơn về chợ Búng. Khi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố Thạnh Quý, phƣờng An Thạnh, thị xã Thuận An thì H điều khiển xe lấn sang làn đƣờng ngƣợc lại và xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 48D1-073.96 do bà Nguyễn Thị Kim L đang điều khiển lƣu thông theo hƣớng ngƣợc lại. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị Kim L bị thƣơng.
Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trƣờng và khám nghiệm phƣơng tiện xác định:
Khu vực xảy ra tai nạn trên đƣờng Thạnh Quý là đƣờng cua vòng cong thuộc khu phố Thạnh Quý, phƣờng An Thạnh, thị xã Thuận An. Đƣờng trải nhựa phẳng, rộng 7 mét, có vạch sơn liền nét giữa đƣờng chia thành hai chiều xe chạy, mỗi chiều rộng 3,5 mét.
Lấy điểm mốc là trụ đèn chiếu sáng số 51 bên mép lề chuẩn.
Lấy lề chuẩn là chiều đƣờng hƣớng từ đƣờng Cách Mạng Tháng Tám về hƣớng Uỷ ban nhân dân xã An Sơn.
Xe mô tô hai bánh biển số 48D1-073.96 ngã qua phải, đầu xe quay về mép lề chuẩn. Trục bánh trƣớc cách lề chuẩn là 0,1 mét; trục bánh sau cách lề chuẩn là 1,2 mét.
Xe mô tô hai bánh biển số 61N5-3574 ngã qua phải, đầu xe quay về mép lề chuẩn. Trục bánh trƣớc cách lề chuẩn là 0,8m, trục bánh sau cách lề chuẩn là 2,1 mét. Trục bánh trƣớc xe mô tô hai bánh biển số 61N5-357 cách trục bánh sau xe mô tô hai bánh biển số 48D1-073.96 là 0,4 mét.
Vết máu cách lề chuẩn là 0,5 mét; cách trục bánh trƣớc xe mô tô hai bánh biển số 48D1-073.96 là 1,4 mét; trục bánh sau xe mô tô hai bánh biển số 61N5-3574 cách trụ đèn chiếu sáng số 51 là 16,1 mét.
Xe mô tô biển số 48D1-073.96: Trầy xƣớc đầu dè chắn bùn bằng nhựa trƣớc, cong chảng trƣớc, trầy xƣớc mặt nạ bằng nhựa trƣớc, vỡ yếm chắn gió trái, yếm chắn gió phải mài mòn, gác để chân trƣớc bên phải mài mòn, cong về sau.
Xe mô tô biển số 61N5-3574: Vỡ đầu nhựa dè chắn bùn trƣớc, cong chảng ba trƣớc, đầu nhựa tay cầm phải mài mòn, vỡ yếm chắn gió phải và trái, đầu nhựa gác chân trƣớc bên phải mài mòn.
Kết luận giám định thƣơng tích số 196/2019/GĐPY ngày 14/5/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại của Nguyễn Thị Kim L là 62%.
Kết luận giám định số 44/GĐ-PC54 ngày 22/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định:
- Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 48D1-073.96 và xe mô tô biển số 61N5-3574 là phần vỏ xe, niềng bánh trƣớc xe mô tô biển số 61N5-3574 va chạm với phần đùm bánh trƣớc bên trái xe mô tô biển số 48D1-073.96.
- Cơ chế hình thành dấu vết giữa xe mô tô biển số 61N5-3574 và xe mô tô biển số 48D1-073.96 là khi xe mô tô biển số 61N5-3574 lƣu thông trên đƣờng Thạnh Quý hƣớng từ xã An Sơn về phƣờng An Thạnh thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 48D1-073.96 lƣu thông chiều ngƣợc lại.
Cáo trạng số 01/CT-VKS-TA ngày 12/12/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Trần Anh H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân tốt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng các tình giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 41/2017/QH14 về thi hành Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo H mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho bị hại và xin Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất, cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo để có cơ hội làm lại cuộc đời.
Bị hại trình bày: Nội dung sự việc nhƣ bản cáo trạng, sau khi xảy ra tai nạn thì bị hại không còn biết gì, khi tỉnh lại thì biết mình nằm trong bệnh viện. Bị hại đã điều trị thƣơng tích ở nhiều bệnh viện với chi phí có hóa đơn là 169.930.000 đồng. Ngoài ra do bị hại bị tai nạn phải nghỉ việc 06 tháng, bị mất thu nhập nên yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng tiền thu nhập bị mất là 29.400.000 đồng, riêng tiền thu nhập bị mất của ngƣời chăm sóc cho bị hại thì bị hại không yêu bồi thƣờng. Trƣớc đây bị cáo đã bồi thƣờng 120.000.000 đồng, bị cáo phải bồi thƣờng số tiền còn lại là 79.330.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo, cho bị cáo hƣởng án treo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Châu Hồ Anh V trình bày: Ông V là chồng bà L. Sau khi tai nạn xảy ra, bà Lan phải đi điều trị nhiều bệnh viện, ông V phải nghỉ làm ở công ty một thời gian nhƣng vẫn đƣợc công ty trả lƣơng nên tại phiên tòa ông V không yêu cầu bồi thƣờng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng tai nạn giao thông, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 01/3/2017, H điều khiển xe mô tô biển số 61N5-3574 lƣu thông trên đƣờng Thạnh Quý thuộc khu phố Thạnh Quý, phƣờng An Thạnh, thị xã Thuận An thì điều khiển xe lấn sang làn đƣờng ngƣợc lại và xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 48D1-073.96 do bà Nguyễn Thị Kim L đang điều khiển lƣu thông theo hƣớng ngƣợc lại. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị Kim L bị thƣơng với tỷ lệ thƣơng tật 62%
Bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định và điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 110 cm3, đi không đúng làn đƣờng quy định là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông đã vi phạm Điều 9, Điều 59 Luật Giao thông đƣờng bộ và gây hậu quả làm cho bà Nguyễn Thị Kim L bị thƣơng với tỷ lệ thƣơng tật 62% nên đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham giao thông đƣờng bộ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội xảy ra vào năm 2017, nay mới đƣợc đƣa ra xét xử nên áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông, gây thiệt hại về sức khỏe của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng cho ngƣời và phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là trái pháp luật nhƣng nghĩ không xảy ra hậu quả nhƣng thực tế xảy ra tại nạn dẫn đến hậu quả làm cho ngƣời bị hại bị thƣơng với tỷ lệ thƣơng tật 62%. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do bị cáo chƣa đƣợc học luật giao thông, chƣa có giấy phép lái xe, thiếu kiến thức pháp luật về giao thông và kỹ năng điều khiển xe, điều khiển xe không đúng làn đƣờng quy định, do đó cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả tội phạm, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện tội phạm không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ cƣ trú rõ ràng, việc phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng không gây nguy hiểm nên không cần cách ly bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo tự cải tạo, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát, giáo dục theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại số tiền 120.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo bồi thƣờng tiếp tục bồi thƣờng cho bị hại số tiền viện phí, tiền thuốc còn lại, bồi thƣờng tiền thu nhập bị mất của bị hại tổng số tiền là 79.330.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận .
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển số 61N5-3574 mà bị cáo điều khiển và gây ra tai nạn giao thông, quá trình điều tra xác định do bà Nguyễn Thị Trinh, sinh năm 1974, nơi cƣ trú: Phƣờng Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng đứng tên chủ sở hữu. Bà Trinh đã bán xe mô tô trên cho Trần Anh H vào năm 2014, có ký hợp đồng công chứng, nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho Trần Anh H là có căn cứ.
Đối với xe mô tô biển số 48D1-073.96 quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Kim L nên cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà Nguyễn Thị Kim L là có căn cứ. Đối với hƣ hỏng của xe mô tô biển số 48D1-073.96, Trần Anh H đã tự nguyện sửa chữa xe cho bà L, bà L có đơn từ chối định giá giá trị tài sản thiệt hại.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 590 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Anh H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ.
Xử phạt bị cáo Trần Anh H 03 (ba) năm tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 07/01/2020. Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân phƣờng Hƣng Định, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân phƣờng Hƣng Định phải thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự thị xã Thuận An để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thƣờng cho bị hại số tiền 79.330.000 đồng (bảy mƣơi chín triệu ba trăm ba mƣơi ngàn đồng)
Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu ngƣời phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho ngƣời đƣợc thi hành án thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án thì còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với thời hạn và số tiền chậm trả.
3. Về án phí: Bị cáo Trần Anh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.966.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thị xã Thuận An; - CQCSĐT Công an thị xã Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Thuận An; - UBND phƣờng Hƣng Định, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; - Bị hại; - Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |