vanban.org

Bản án 06/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hữu P (Tên gọi khác: Út Nhựt) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Hữu P 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/03/2018. Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật gói tinh thể không màu có khối lượng 1,9414gram được niêm phong, có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ HỮU P - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc (điều 311 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hữu P (Tên gọi khác: Út Nhựt) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HSST
Ngày: 06 - 03 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Kim Tuyến.

2. Ông Văn Công Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa:

Ông Lê Huỳnh Thiện - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 06 tháng 03 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2019/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2019/HSST-QĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hữu P (Tên gọi khác: Út Nhựt), sinh năm 1982, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố N, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Trần Thị S, sinh năm: 1950; Anh, chị em ruột có 05 người; Vợ Nguyễn Châu Thy H, sinh năm: 1993; Con tên Lê Tâm N, sinh năm: 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/4/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 14 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 24/HSST (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/03/2018, chuyển tạm giam từ ngày 07/4/2018 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Châu Thy H, sinh năm: 1993 (Vắng mặt).

HKTT: Khu phố N, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: như trên.

- Ông Huỳnh Trọng A, sinh năm: 1987 (Vắng mặt).

HKTT: Ấp H, xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở; như trên.

- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1988 (Vắng mặt).

- HKTT: ấp HT, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, Tỉnh An Giang.

Chỗ ở: như trên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 13h30 ngày 28/03/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Nhà Bè phối hợp với Công an thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè tiến hành kiểm tra nhà số 13/13 tổ 7, khu phố 5, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra, có mặt Lê Hữu P (sinh năm:1982; HKTT: Khu phố N, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh), Huỳnh Trọng A (sinh năm: 1987; HKTT: ấp 2, xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tấn C (sinh năm:1984; HKTT: Khu phố B, phường Phú Mỹ, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Châu Thy H (sinh năm: 1993; HKTT: Khu phố N, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh) và Nguyễn Văn Đ (sinh năm:1988; HKTT: ấp HT, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang) có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện tại thắt lưng quần phía trong, bên trái của Lê Hữu P đang mặc có 01 gói nylon được hàn kín bên trong chứa tinh thể không màu, P khai nhận là ma túy đá, nên tổ kiểm tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển hồ sơ cùng vật chứng và đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè, Lê Hữu P khai nhận: Lê Hữu P là đối tượng nghiện ma túy đá nên thường mua ma túy đá về sử dụng. Từ tháng 12 năm 2017, để có tiền chi tiêu cá nhân và ma túy sử dụng, P bắt đầu mua ma túy đá về chia nhỏ để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Trong quá trình hoạt động mua bán trái phép chất ma túy, P đã bán cho Huỳnh Trọng A được 02-03 lần, mỗi lần là 01 gói ma túy đá với giá từ 100.000đ đến 200.000đ; bán cho Nguyễn Tấn C được 04 đến 05 lần, mỗi lần 01 gói ma túy đá với giá tiền là 100.000đ nhưng P chỉ lấy tiền 03 lần, những lần còn lại P không lấy tiền vì C có công chăm sóc gà cho P; bán cho Nguyễn Văn Đ được 02 đến 03 lần, mỗi lần bán là 01 gói ma túy đá với giá 200.000đ. Thông thường, khi các đối tượng nghiện cần mua ma túy sẽ điện thoại vào số 0909028273 của P để thỏa thuận số tiền và lượng ma túy cần mua, sau đó đến nhà của P tại số Khu phố N, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp lấy ma túy và đưa tiền. Nguồn gốc số ma túy mà Công an thu giữ của P là do P mua của một người thanh niên tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) tại chân cầu Tân Thuận 1, thuộc quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, với giá 900.000đ để về sử dụng và chia nhỏ bán lại cho các đối tượng nghiện khi có nhu cầu mua. Lúc 13h30 ngày 28/03/2018, P đang ở tại nhà thì A, Đ, C vào hỏi mua ma túy nhưng do P đang ăn cơm chưa kịp bán ma túy cho 03 đối tượng này, thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt giữ. Trung bình mỗi tuần P thu lợi từ việc bán ma túy số tiền từ 200.000đ đến 300.000đ và một phần ma túy để sử dụng. Quá trình P đi mua ma túy về cất giữ để sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện chỉ có mình P thực hiện và không có ai cùng tham gia.

- Kết luận giám định số: 655 /KLGĐ-H ngày 05/4/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

“…Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (Tinh thể không màu trong 01gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Hữu P và hình dấu Công an thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,0592 gram, loại Methamphetamine”.

Đối với người thanh niên tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Tấn C, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh Trọng A, Nguyễn Châu Thy H, không đủ cơ sở xác định là đồng phạm với P trong vụ án này, nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè giao các đối tượng cho Công an thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè xử lý hành chính theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Tại Bản cáo trạng số 43/CT-VKS-NB ngày 31/10/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố bị cáo Lê Hữu P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Lê Hữu P mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu, tiêu hủy tinh thể không màu có khối lượng 2,0592 gram (số lượng còn lại sau giám định là 1,9414gram) được niêm phong, có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra là vật cấm lưu hành.

- 01 điện toại di động hiệu NOKIA model 1280, màu đen, số Imel:356230/04/365630/8 đã qua sử dụng là phượng tiện bị cáo dùng để liên lạc việc mua bán ma túy nghĩ nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy từ giữa tháng 12/2017 đến ngày bị bắt là 3.000.000đồng.

Đối với người thanh niên tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho P, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Tấn C, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh Trọng A, Nguyễn Châu Thy H, không đủ cơ sở xác định là đồng phạm với P trong vụ án này nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè giao các đối tượng cho Công an thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè xử lý hành chính theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an huyện Nhà Bè và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố; Bị cáo cũng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của Lê Hữu P: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hữu P đã thừa nhận vì nghiện ma túy và cần có tiền tiêu xài nên trong khoảng thời gian từ giữa tháng 12 năm 2017 đến ngày bị bắt bị cáo đã mua ma túy đá về chia nhỏ để sử dụng và bán cho các đối tượng Huỳnh A (02 đến 03 lần), Nguyễn Tấn C (04 đến 05 lần), Nguyễn Văn Đ (02 đến 03 lần), bị cáo đã thu lợi số tiền từ 200.000đồng đến 300.000đồng mỗi tuần. Tại thời điểm bị bắt bị cáo đang giữ khối lượng ma túy là 2,0592 gram, loại Methamphetamine.

Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28/03/2018, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lê Hữu P đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa và nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ khả năng nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì nhu cầu nghiện hút, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân và xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an C.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, để răn đe riêng và phòng ngừa C.

Tuy nhiên: Xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Quyết định trả hồ sơ bổ sung số 13/2018/HSST-QĐ ngày 30/11/22018 Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè yêu cầu điều tra bổ sung những vấn đề sau đây: “…làm rõ hành vi của Nguyễn Châu Thy H có dấu hiệu là đồng phạm của tội Mua bán trái phép chất ma túy hay không? Làm rõ hành vi của Lê Hữu P, Nguyễn Châu Thy H, Huỳnh A, Nguyễn Tấn C và Nguyễn Văn Đ vì P có dấu hiệu của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Làm rõ số tiền mà P thu lợi bất chính trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy…”

Tại Công văn trả lời số 04/CV-CQCSĐT-MT ngày 27/12/2018 của Công an huyện Nhà Bè xác định việc mua bán ma túy do P thực hiện một mình và H hoàn toàn không biết nên H không phải là đồng phạm với P trong vụ án này; đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của P không có cơ sở để khởi tố do các đối tượng liên quan không thừa nhận việc P đã tổ chức cho các đối tượng này sử dụng ma túy tại nhà. Đến ngày 05/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè có Công văn số 09/CV Về việc hoàn trả hồ sơ điều tra bổ sung vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo P theo Cáo trạng số 43/CT-VKS-NB ngày 31/10/2018. Do Viện kiểm sát không truy tố nên Tòa án chỉ xét xử bị cáo P theo cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, không giải quyết đối với Nguyễn Châu Thy H về hành vi đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy và Lê Hữu P về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 1,9414gram được niêm phong, có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra là vật cấm lưu hành nên căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xét tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện toại di động hiệu NOKIA model 1280, màu đen, số Imel:356230/04/365630/8 đã qua sử dụng là phượng tiện bị cáo dùng để liên lạc việc mua bán ma túy nghĩ nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền bị cáo thu lợi bất chính trong thời gian hoạt động ma túy từ giữa tháng 12 năm 2017 đến ngày bị bắt khoảng 3.000.000đồng nghĩ nên buộc bị cáo phải nộp số tiền này để sung công quỹ Nhà nước.

Đối với người thanh niên tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho P, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Tấn C, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh A, Nguyễn Châu Thy H, không đủ cơ sở xác định là đồng phạm với P trong vụ án này nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè giao các đối tượng cho Công an thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè xử lý hành chính theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Hữu P (Tên gọi khác: Út Nhựt) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Lê Hữu P 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/03/2018.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật gói tinh thể không màu có khối lượng 1,9414gram được niêm phong, có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện toại di động hiệu NOKIA model 1280, màu đen, số Imel: 356230/04/365630/8, đã qua sử dụng.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 2019-NK006 ngày 05/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).

Buộc bị cáo P nộp số tiền 3.000.000đồng.

3. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ