vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 19/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (m ời lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 30- 7- 2019). Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp số tiền phạt bổ sung là 13.340.000 đ ng (M ời ba triệu ba trăm bốn m ơi ngàn đ ng) vào ngân sách Nhà n ớc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày: 19- 02- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Đằng.

Ông Thái Bá Việt.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Th

T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Quốc Tuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp mở phiên t a xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự thụ l số: 41/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 tại t nh Nam Định; nơi c trú (HKTT): Ấp N, xã An P, huyện Thanh B, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị T2 (chết); bị cáo ch a có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 30- 7- 2019; tạm giam: Ngày 02- 8- 2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đ ng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo:

Luật s Huỳnh Lệ Linh- Văn ph ng Luật s Chí Công thuộc Đoàn Luật s t nh Đ ng Tháp (có mặt tại phiên tòa).

Địa ch : Số 02, đ ờng Nguyễn C Trinh, hóm 5, ph ờng 1, thành phố Sa Đéc, t nh Đ ng Tháp.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1968 (có mặt tại phiên tòa).

Địa ch : Ấp N, xã An P, huyện Thanh B, t nh Đ ng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1997 (vắng mặt).

2. Huỳnh Trọng K, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Cùng địa ch : Ấp T4, xã An P, huyện Thanh B, t nh Đ ng Tháp.

3. Phan Duy Linh, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp N, xã An P, huyện Thanh B, t nh Đ ng Tháp.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án đ ợc tóm t t nh sau:

Nguyễn Văn T là đối t ợng nghiện ma túy. Từ tháng 3- 2019, T b t đầu mua ma túy về nhà ph n lẻ bán lại cho các thanh niên cùng xóm đem đi nơi hác sử dụng và để có phần ma túy sử dụng cho bản th n. Thời gian đầu, T mua ma túy của nhiều ng ời hông rõ lai lịch ở thị xã H ng N1, t nh Đ ng Tháp mỗi lần 1.000.000 đ ng mang về nhà ph n lẻ ma túy ra làm nhiều bịch nhỏ hàn ín để bán cho ng ời sử dụng, giá mỗi bịch ma túy là 200.000 đ ng, số ma túy c n lại T cất giữ để sử dụng.

Tháng 7- 2019, trong một lần đi tìm mua ma túy ở hu vực thị xã H ng N1 thì có ng ời cho số điện thoại của ng ời có tên là K1 ở Thành phố H Chí Minh ( hông rõ lai lịch) có bán ma túy với giá rẻ, Nguyễn Văn T điện thoại liên lạc thì đ ợc K1 đ ng bán ma túy, nh ng K nói phải mua từ 10.000.000 đ ng trở lên thì K mới bán vì ở xa phải làm thùng hàng ngụy trang mới gửi ma túy đ ợc.

Ngày 20- 7- 2019, T gom đủ 10.000.000 đ ng nên điện thoại cho K thì K cho số tài hoản 060200942951 tên Nguyễn Thị Tuyết U tại Ng n hàng Sacomban để T chuyển tiền. Nguyễn Văn T đến cửa hàng Viettel ở thành phố C, t nh Đ ng Tháp gửi số tiền 10.000.000 đ ng cho K. Sau hi nhận đ ợc tiền, K gửi gói hàng có chứa ma túy về cho T qua xe khách Hùng C tuyến Thành phố H Chí Minh- thị xã H ng N1. Ngày 21- 7- 2019, T đến trạm xe Hùng C tại huyện Tam N2, t nh Đ ng Tháp nhận gói hàng chứa ma túy r i mang về ph n lẻ ma túy ra thành từng bịch nhỏ và bán lại cho nhiều ng ời ( hông nhớ rõ cụ thể là bán cho những ai) với giá 200.000 đ ng/01 bịch, bán đ ợc tổng số tiền là 14.000.000 đ ng.

Ngày 29- 7- 2019 sau hi đã bán hết ma túy, Nguyễn Văn T tiếp tục gọi điện và đến Ngân hàng Sacombank chi nhánh Thanh B, t nh Đ ng Tháp gửi số tiền 14.000.000 đ ng vào tài hoản số 060200942951 tên Nguyễn Thị Tuyết U cho K để mua ma túy đá về bán. Ngày 30- 7- 2019, K gửi thùng hàng có 02 chiếc loa m thanh loại nhỏ, bên trong 01 chiếc loa cất giấu ma túy về trạm xe Hùng C tại thị trấn Thanh B, huyện Thanh B, t nh Đ ng Tháp để Nguyễn Văn T đến nhận. Lúc 13 giờ 45 phút, ngày 30- 7- 2019, Nguyễn Văn T đến trạm xe Hùng C ờng tại thị trấn Thanh B, huyện Thanh B nhận gói hàng có chứa ma tu để đem về bán lại cho ng ời hác thì bị phát hiện b t quả tang.

Tài liệu, đ vật thu giữ:

- 02 (hai) cái loa màu đen sọc tr ng loại nhỏ.

- Bên trong của 01 loa có 01 bịch ni lon màu tr ng, ẹp 01 đầu, viền đỏ, bên trong có chứa hạt tinh thể r n màu tr ng (nghi là ma túy) đã thu giữ và niêm phong trong phong bì màu tr ng có đóng dấu tr n đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh B ( hiệu A1).

- Tiền Việt Nam đ ng: 13.340.000 đ ng (M ời ba triệu ba trăm bốn m ơi ngàn đ ng) niêm phong trong phong bì màu tr ng có đóng dấu tr n đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh B ( hiệu A2).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xám sử dụng số thuê bao 0866737422 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5s màu tr ng, sử dụng số thuê bao: 0939851XXX niêm phong trong phong bì màu tr ng có đóng dấu tr n đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh B ( hiệu A3).

- 01 (một) bịch ni lon màu tr ng dán một tờ giấy màu tr ng có chữ: “Ng ời nhận A.T, Đ ng Tháp, H ng Ngự, Thanh B, Ng ời gửi: Anh K”.

- 01 (một) ví da màu đen.

- 01 (một) giấy Chứng minh nh n d n mang tên Nguyễn Văn T.

- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn T.

- 02 (hai) sợi d y điện màu vàng.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Citi 110 màu xanh, biển số 66B1- 159.64, số hung HLY381183912, số máy OFMH80199007.

Kết quả hám xét hẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Văn T phát hiện và thu giữ: 01 (một) c y éo bằng im loại màu tr ng; 01 (một) quẹt gas màu đỏ; 01(một) quẹt gas màu tr ng; 01 (một) quẹt gas bằng im loại màu tr ng; 05 (năm) đoạn ống hút màu tr ng, một đầu c t nhọn; 02 (hai) bịch ni lon tr ng một đầu ẹp bên trong hông chứa gì; 03 (ba) chai gas mini; 02 (hai) B thủy tinh để sử dụng ma túy đá.

Tại bản Kết luận giám định số 618/KL- KTHS ngày 01- 8- 2019 của Ph ng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Tháp đã ết luận: Tinh thể r n chứa trong 01 bịch ni lon màu tr ng dạng n p ẹp một đầu có viền đỏ đ ợc niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1 gửi đến giám định là chất ma túy, có hối l ợng 30,020 gam, loại Methamphetamine (số thứ T 323 thuộc Danh mục II, Nghị định số 73 ngày 15- 5- 2018 của Chính phủ).

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T hai nhận toàn bộ hành vi mua bán chất ma túy nh đã nêu trên và bị cáo còn T hai nhận đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều ng ời, trong đó bị cáo ch nhớ tên một số ng ời g m: Nguyễn Hữu T3, Phan Duy L, Huỳnh Trọng K, Nguyễn Văn Tịnh, Nguyễn Minh Duy cùng trú tại xã An P, huyện Thanh B, t nh Đ ng Tháp.

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Viện iểm sát nh n d n t nh Đ ng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b hoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên t a sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận bị cáo là ng ời hông có nghề nghiệp ổn định, nghiện chất ma túy, vì muốn có tiền tiêu xài cá nh n và có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán chất ma túy cho các đối t ợng nghiện ma túy trên địa bàn huyện Thanh B. Kể từ tháng 3-2019, bị cáo th ờng xuyên đến thị xã H ng N, t nh Đ ng Tháp tìm mua ma túy về ph n lẻ thành nhiều bịch nhỏ bán cho ng ời nghiện hác lấy tiền tiêu xài và chừa phần để bị cáo sử dụng, mỗi lần bị cáo mua ma túy hoảng 1.000.000 đ ng, khi bán lại mỗi bịch ma túy nhỏ giá hoảng 200.000 đ ng. Khi mua ma túy ở thị xã H ng N, bị cáo đ ợc một ng ời bán ma túy hông nhớ tên cho số điện thoại của một ng ời tên K ở Thành phố H Chí Minh để mua ma túy của K. Bị cáo hai nhận đã mua ma túy từ K 02 lần và nhận hàng vào các ngày 21- 7- 2019 và 30- 7- 2019 đúng nh nội dung Cáo trạng truy tố, trong đó lần nhận hàng ngày 30- 7- 2019 tại trạm xe Hùng C, thị trấn Thanh B, huyện Thanh B thì bị cáo bị b t quả tang. Bị cáo mua ma túy và bán lại cho nhiều ng ời, bị cáo ch nhớ tên một số ng ời mua ma túy của bị cáo nh : Nguyễn Hữu T3, Phan Duy L, Huỳnh Trọng K, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Minh D nh ng bị cáo hông nhớ cụ thể đã bán ma túy cho mỗi ng ời bao nhiêu lần, bị cáo thừa nhận lời hai của những ng ời này về số lần mua ma túy của bị cáo là đúng.

Tại phiên t a, đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh Đ ng Tháp giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b hoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên phân tích rằng bị cáo Nguyễn Văn T nhiều lần mua bán ma túy nên bị cáo thuộc tr ờng hợp phạm tội hai lần trở lên, đ y là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g hoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, nh ng trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn T đã tự hai ra các lần mua bán ma túy và bị cáo cũng thành hẩn hai báo nên đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo theo quy định tại các điểm r, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đ ng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 15 năm tù đến 17 năm tù.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng hoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 đ ng đến 20.000.000 đ ng và đề nghị xử l vật chứng nh phần quyết định của Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, Luật s bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T phát biểu thống nhất với nội dung Cáo trạng về tội danh và điều luật áp dụng để truy tố bị cáo. Luật s cho rằng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng cho bị cáo là có cơ sở, Luật s đề nghị xét bản th n bị cáo ch a có tiền án, tiền sự nên bị cáo c n có thể đ ợc giảm nhẹ theo hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, Luật s đề nghị Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất.

Bị cáo Nguyễn Văn T hông tham gia tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nhận định nh sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đ ng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an t nh Đ ng Tháp, Điều tra viên; Viện iểm sát nh n d n t nh Đ ng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình hởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ hi hởi tố vụ án cho đến tại phiên t a sơ thẩm những ng ời tham gia tố tụng hông ai có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, vào lúc 13 giờ 45 phút, ngày 30- 7- 2019 bị cáo Nguyễn Văn T đến trạm xe Hùng C tại thị trấn Thanh B, huyện Thanh B nhận gói hàng có chứa ma túy để đem về bán lại cho ng ời hác thì bị phát hiện và bị b t quả tang cùng với tang vật, bị cáo thừa nhận mua số ma túy này của một ng ời tên là K (không rõ lai lịch) ở Thành phố H Chí Minh để về bán lại cho các đối t ợng nghiện hác và để bị cáo sử dụng. Tr ớc hi mua ma túy, bị cáo điện thoại liên hệ với K, sau đó bị cáo đến Ng n hàng Sacomban chi nhánh Thanh B chuyển số tiền 14.000.000 đ ng cho K qua số tài hoản Sacomban 060200942951 của ng ời tên Nguyễn Thị Tuyết U. Khối l ợng ma túy thu giữ đ ợc theo ết luận giám định là 30,020 gam, loại Methamphetamin, là chất ma túy quy định tại số thứ tự 323 thuộc Danh mục II Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

[3] Bị cáo c n thừa nhận từ tháng 7 năm 2019 đến tr ớc ngày bị b t quả tang bị cáo cũng đã mua ma túy đá của ng ời tên K 01 lần, cụ thể vào ngày 20- 7- 2019 bị cáo đến cửa hàng Viettel ở thành phố C chuyển số tiền 10.000.000 đ ng cho K vào tài hoản Sacomban số 060200942951 của Nguyễn Thị Tuyết U tại Ngân hàng Sacombank, ngày 21- 7- 2019 bị cáo đến trạm xe Hùng C tại huyện Tam N, t nh Đ ng Tháp nhận gói hàng chứa ma túy mang về ph n chia ra bán lại cho các đối t ợng nghiện đ ợc 14.000.000 đ ng.

[4] Xét thấy ể từ tháng 3 năm 2019 đến tr ớc ngày bị b t quả tang, bị cáo mua ma túy về ph n nhỏ lẻ để sử dụng và bán lại cho những ng ời nghiện nh : Nguyễn Hữu T3, Phan Duy L, Huỳnh Trọng K, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Minh D cùng trú tại xã An P, huyện Thanh B, t nh Đ ng Tháp. Theo lời hai của Nguyễn Hữu T3 thì bị cáo bán ma túy cho T3 03 lần, Phan Duy L hai mua ma túy của bị cáo 02 lần, Huỳnh Trọng K, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Minh D khai mua ma túy của bị cáo nhiều lần do hông nhớ cụ thể.

[5] Xét thấy Nguyễn Văn T là ng ời đã thành niên, có đầy đủ năng lực để nhận thức và làm chủ hành vi, bị cáo biết rõ việc mua bán ma túy bị pháp luật ngăn cấm nh ng vẫn cố thực hiện và thực hiện nhiều lần. Nh vậy, có đủ cơ sở để hẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b hoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, x m phạm đến chế độ độc quyền của Nhà n ớc về iểm soát, quản l các chất ma túy. Hành vi của bị cáo tạo điều iện để phát tán chất ma túy trong cộng đ ng, góp phần làm phát sinh nhiều ng ời nghiện và tăng mức độ nghiện ma túy cho nhiều ng ời, đầu độc cơ thể họ và qua đó cũng góp phần tạo ra nguyên nh n, điều iện làm phát sinh nhiều loại tội phạm hác, g y mất an ninh trật tự tại địa ph ơng. Xét thấy bản th n bị cáo là ng ời nghiện ma túy, bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nh ng vẫn coi th ờng pháp luật, vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải đ ợc nghiêm trị để răn đe và ph ng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên đ ợc quy định tại điểm g hoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên t a sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã T thú nhận các lần phạm tội tr ớc đ y, trong vụ án này bị cáo cũng thành hẩn hai báo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

[8] Về hình phạt bổ sung: Hội đ ng xét xử căn cứ quy định tại hoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Đối với Nguyễn Hữu T3, Huỳnh Trọng K và Phan Duy L có hành vi mua ma túy của bị cáo Nguyễn Văn T về để sử dụng, Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh B xem xét xử l hành chính theo quy định nên hông đề cập xử l trong vụ án này.

[10] Kiến nghị Cơ quan điều tra Công an t nh Đ ng Tháp điều tra làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Tuyết U và ng ời tên K.

[11] Về xử l vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy tang vật có liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nh ng hông c n giá trị sử dụng g m:

+ Toàn bộ chất ma túy c n lại sau giám định:

Mẫu tinh thể r n c n lại sau hi trích mẫu giám định trong phong bì ghi

hiệu A1 có hối l ợng: 28,363 gam, đ ợc niêm phong ghi: “Niêm phong số 636, ngày 30/7/2019” có đóng dấu tr n màu đỏ của Ph ng ỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Tháp và các chữ ghi họ tên: Tr ơng Minh V, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Hoài N2 và Nguyễn Văn T.

Mẫu tinh thể r n trích để giám định c n lại sau giám định có hối l ợng 1,549 gam, đ ợc niêm phong trong phong bì ghi “Niêm phong số: 618, ngày 01/8/2019” có đóng dấu hình tr n màu đỏ của Ph ng ỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Tháp và các chữ ghi họ tên: Tr ơng Minh V và H Thế V1.

+ Dụng cụ sử dụng ma túy: 01 c y éo bằng im loại màu tr ng; 01 quẹt gas màu đỏ; 01 quẹt gas màu tr ng; 01 quẹt gas bằng im loại màu tr ng; 05 đoạn ống hút màu tr ng, một đầu c t nhọn; 02 bịch ny lon tr ng một đầu ẹp bên trong hông chứa gì; 03 chai gas mini; 02 B thủy tinh để sử dụng ma túy đá.

+ Vật hông c n giá trị sử dụng: 01 bịch ny lon màu tr ng dán một tờ giấy màu tr ng có chữ: “Ng ời nhận A.T, Đ ng Tháp, H ng N, Thanh B, Ng ời gửi: Anh K”; 02 loa màu đen sọc tr ng; 02 sợi d y điện màu vàng.

- Tịch thu nộp ng n sách Nhà n ớc ph ơng tiện phạm tội: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tr ng sử dụng số thuê bao: 093985XXXX bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy.

- Tiếp tục quản l để đảm bảo thi hành án các tang vật g m: Tiền Việt Nam đ ng 13.340.000 đ ng (M ời ba triệu ba trăm bốn m ơi ngàn đ ng).

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) ví da màu đen; 01 (một) Giấy chứng minh nh n d n mang tên Nguyễn Văn T; 01 (một) giấy đăng xe mô tô mang tên Nguyễn Văn T; 01 (một) xe mô tô hiệu Citi 110 màu xanh, biển số 66B1- 159.XX, số hung HLY381183XX2, số máy OFMH80199XXX7; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xám sử dụng số thuê bao 0866737XXX. Đ y là tài sản của bị cáo hông liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy.

[12] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Xét thấy phát biểu luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận; phát biểu của Luật s bào chữa cho bị cáo có một phần cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b hoản 3 Điều 251; điểm g hoản 1 Điều 52; các điểm r, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (m ời lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 30- 7- 2019).

Căn cứ hoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp số tiền phạt bổ sung là 13.340.000 đ ng (M ời ba triệu ba trăm bốn m ơi ngàn đ ng) vào ngân sách Nhà n ớc.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy tang vật có liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nh ng hông c n giá trị sử dụng g m:

+ Toàn bộ chất ma túy c n lại sau giám định:

Mẫu tinh thể r n trong phong bì ghi hiệu A1 có hối l ợng: 28,363 gam, đ ợc niêm phong ghi: “Niêm phong số: 636, ngày 30/7/2019” có đóng hình dấu tr n màu đỏ của Ph ng ỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Tháp và các chữ

ghi họ tên: Tr ơng Minh V, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Hoài N2 và Nguyễn Văn T.

Mẫu tinh thể r n có hối l ợng 1,549 gam, đ ợc niêm phong trong phong bì ghi “Niêm phong số: 618, ngày 01/8/2019” có đóng hình dấu tr n màu đỏ của Ph ng ỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Tháp và các chữ ghi họ tên: Tr ơng Minh V và H Thế V1.

+ Dụng cụ sử dụng ma túy: 01 (một) c y éo bằng im loại màu tr ng; 01 (một) quẹt gas màu đỏ; 01 (một) quẹt gas màu tr ng; 01 (một) quẹt gas bằng im loại màu tr ng; 05 (năm) đoạn ống hút màu tr ng, một đầu c t nhọn; 02 (hai) bịch ny lon tr ng một đầu ẹp bên trong hông chứa gì; 03 (ba) chai gas mini; 02 (hai) B thủy tinh để sử dụng ma túy đá.

+ Vật hông c n giá trị sử dụng: 01 (một) bịch ny lon màu tr ng dán một tờ giấy màu tr ng có chữ: “Ng ời nhận A.T, Đ ng Tháp, H ng N, Thanh B, Ng ời gửi: Anh K”; 02 (hai) cái loa màu đen sọc tr ng loại nhỏ; 02 (hai) sợi d y điện màu vàng.

- Tịch thu nộp ng n sách Nhà n ớc ph ơng tiện phạm tội: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5s màu tr ng sử dụng số thuê bao: 0939851XXXX.

- Tiếp tục quản l để đảm bảo thi hành án: Tiền Việt Nam 13.340.000 đ ng (Mười ba triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng).

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) ví da màu đen; 01 (một) Giấy chứng minh nh n d n mang tên Nguyễn Văn T; 01 (một) giấy đăng xe mô tô mang tên Nguyễn Văn T; 01 (một) xe mô tô hiệu Citi 110 màu xanh, biển số 66B1- 159.XX, số hung HLY381183XXXX, số máy OFMH8019XXX; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xám sử dụng số thuê bao 0866737XXX.

(Hiện các vật chứng nêu trên do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28- 11- 2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).

3. Về án phí:

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền háng cáo Bản án này lên Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố H Chí Minh trong thời hạn 15 ngày (M ời lăm ngày) ể từ ngày tuyên án (19- 02- 2020).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, T nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ