vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 11/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 586/2019/PC09 niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; trả lại cho bà Nguyễn Thị Nghệ 01 xe moto n…

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lưu Thị L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo đối với bản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Thị L - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 586/2019/PC09 niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; trả lại cho bà Nguyễn Thị Nghệ 01 xe moto n…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày 11-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Phạm Thị Bấm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy L - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Lưu Thị L, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1979 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 59 đường H, phường T, quận B, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Trung A (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ng; tiền án: Tại Bản án số 38/2016/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2016, Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án); tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 28 tháng 11 năm 2019, tạm giam ngày 03 tháng 12 năm 2019; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ng; nơi cư trú: Số 59 H, phường T, quận B, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 28/11/2019, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Phòng đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Lưu Thị L tại khu vực đầu ngõ 30 đường Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Lưu Thị L đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 07x16 cm trên bề mặt có in chữ “Hùng béo” bên trong có một túi nilon màu trắng kích thước khoảng 03x03 cm chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, Lưu Thị L khai nhận số tinh thể màu trắng là ma túy đá do Lưu Thị L mua để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định. Ngoài ra, Cơ quan điều tra cũng thu giữ của Lưu Thị L 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu trắng vàng đã qua sử dụng, 01 xe moto NAGAKI mang BKS 16FA – 6254 đã qua sử dụng và số tiền 800.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu Thị L tại số 59 đường H, quận B, thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Kết luận giám định số 586/KLGĐ ngày 02/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8742 gam, là loại Methamphetamine.

Kết luận giám định số 842/KLGD ngày 06/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Xe moto, nhãn hiệu NAGAKI mang BKS 16FA – 6254, có số khung và số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa.

Tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xác định chủ xe moto nhãn hiệu NAGAKI mang BKS 16FA – 6254 nêu trên là ông Lưu Trung A, địa chỉ tại số 59 H, quận B, thành phố Hải Phòng, là bố đẻ của Lưu Thị L.

Quá trình điều tra Lưu Thị L khai nhận: Khoảng hơn 10 giờ ngày 28/11/2019, L điều khiển xe moto nhãn hiệu NAGAKI, mang BKS 16FA – 6254 một mình đến đường tàu Tr, quận C mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng ma túy đá được 01 gói nilon kích thước khoảng 03x03 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Mua được ma túy, Lưu Thị L cất vào người rồi đi đến khu vực đầu ngõ 30 đường Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng để làm móng. Đến nơi, Lưu Thị L gửi xe ở quán “H béo” và đi bộ vào quán trong ngõ. Trên đường đi Lưu Thị L nhặt một vỏ túi nilon màu trắng dạng túi đựng khăn ướt có in tên “H Béo” và bỏ túi ma túy đá vừa mua vào trong. Khi đang tiếp tục đi đến quán làm móng thì Lưu Thị L bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Phòng kiểm tra hành chính, Lưu Thị L đã tự nguyện giao nộp gói ma túy và khai nhận hành vi của mình.

Lời khai nhận tội nêu trên của Lưu Thị L, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và kết luận giám định.

Tại Bản Cáo trạng số 09/CT-VKSNQ ngày 16/01/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lưu Thị L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lưu Thị L với mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 586/2019/PC09 niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; trả lại cho bà Nguyễn Thị Ng 01 xe moto nhãn hiệu NAGAKI mang BKS 16FA – 6254; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone màu trắng vàng đã qua sử dụng và 800.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với sự thật khách quan, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 28/11/2019, tại khu vực đầu ngõ đường 30 Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, Lưu Thị L bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,8742 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Việc cất giấu chất ma túy của bị cáo Lưu Thị L không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 28/11/2019), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo Lưu Thị L đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự khác.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Do Bản án số 38/2016/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2016, Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án nên bị cáo Lưu Thị L còn phải chịu tình tiết tăng nặng "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, bị có bố đẻ là thương binh hạng 1/3 là các tình tiết giản nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo tiếp tục cách ly khỏi xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ biên bản lấy lời khai ngày 14/01/2020 cho thấy bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định, sống phụ thuộc gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 586/2019/PC09 niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; trả lại cho bà Nguyễn Thị Ng 01 xe moto nhãn hiệu NAGAKI mang BKS 16FA – 6254; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone màu trắng vàng đã qua sử dụng và 800.000 đồng, nhưng tạm giữ lại số tiền này để đảm bảo việc thi hành án.

- Về án phí:

Bị cáo Lưu Thị L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, đối với người đàn ông bán ma tuý cho Lưu Thị L, hiện chưa xác minh được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lưu Thị L 30 (ba mươi) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 11 năm 2019.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 586/2019/PC09 niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; trả lại cho bà Nguyễn Thị Nghệ 01 xe moto nhãn hiệu NAGAKI mang BKS 16FA – 6254; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone màu trắng vàng đã qua sử dụng và 800.000 đồng, nhưng tạm giữ lại số tiền này để đảm bảo việc thi hành án. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lưu Thị L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Lưu Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ng có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Ng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ