vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 03/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố Phạm Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt Phạm Văn V 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS -ST
Ngày:03-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Phạm Ngọc Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Minh

Ông Nguyễn Tiến Phương

- Thư ký phiên toà:ông Nguyễn Văn Tùng–Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày03 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2020theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 20tháng 02 năm 2020đối với bị cáo:

Phạm Văn V, sinh ngày 15/6/1980.

Nơi cư trú : xã T, huyện X, tỉnh Nam Định. Trình độ văn hóa: 3/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1949; con bà Phạm Thị H, sinh năm 1949.Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L sinh năm 1985 có 2 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2011. Tiền án: Không có. Tiền sự: Không có . Bị cáo bị tạ m giữ từ ngày 05/12/2019 đến 11/12/2019 chuyển ta ̣m giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Ngườ i là m chứ ng:ông Ngô Thanh Đ, sinh năm 1956 Nơi cư trú: xã T, huyện X, tỉnh Nam Định.

(ông Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiêntòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 05/12/2019 Phạm Văn V đi bộ từ nhà đến xóm 12, xã T để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây V gặp một người đàn ông lạ mặt không rõ tên tuổi địa chỉ và đã mua của người này 01 gói heroine giá 100.000đồng. Sau khi kiểm tra đúng là heroine V cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà. Khi đến khu vực xóm 21, xã T đã bị tổ tuần tra của Công an huyện Xuân Trường nghi vấn kiểm tra. V tự giác giao nộp 01 gói heroine vừa mua. Tổ công tác đưa V về UBND xã T lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng ( ký hiệu M). Khám nơi ở của V không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Theo bản kết luận giám định số 1088/GĐKTHS ngày 06/12/2019 của Phòng KTHS Công an tinh Nam Đi ̣̉

nhkết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong một gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại ma túy Heroine.Khối lượng: 0,166 gam.

Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 03/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố Phạm Văn V về tô ̣i Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị tuyên bố Phạm Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy . Căn cứ điểm ckhoản 1điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Văn V từ 20 tháng đến 22tháng tù. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 BLHS và Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả

̀ mẫu vật sau giám định có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại thi hành án dân sự huyện Xuân Trường. Miễn phạt tiền bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì thêm đối với quyết định truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm, chót nghiện ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền ,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa bi ̣ cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 9 giờ 50 ngày 05/12/2019 của tổ công tác Công an huyện Xuân Trường. Kết luận giám đi ̣nh số

1088/GĐKTHS ngày 06/12/2019 của Phòng KTHS Công an tinh Nam Đi ̣̉

nh . Lời khai của người làm chứng Ngô Thanh Đ. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 9 giờ 40 phút ngày 05/12/2019 tại khu vực xóm 21, xã T, huyện X bị cáo Phạm Văn V đã tàng trữ trong người 0,166 gam heroine. Hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại tới quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, chính sách phòng, chống tệ nạn ma túy mà Đảng và Nhà nước, nhân dân đang thực hiện quyết liệtcho nên cần nghiêm khắc phê phán và trừng trị thích đáng

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn . Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tinh tiết tăng nă ̣ng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

̀

Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt tù với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội.

. Tang vâ ̣t của vu ̣ án :. Tịch thu phong bì thư đã được hoàn trả sau giám địnhcó đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại thi hành án dân sự huyện Xuân Trường.

Về hinh pha ̣t bổ sung: Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo vì bị cáo là đối

̀ tượng nghiện mua sử dụng không nhằm mục đích kiếm lời.

. Bị cáo phảichịu án phí hình sự sơ thẩm.Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

-Tuyên bố Phạm Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt Phạm Văn V 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2019.

2. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 điều 47 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự; Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t Tố

̀ tụng hình sự năm 2015:tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1088 có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại thi hành án dân sự huyện Xuân Trường ngày 21/02/2020.

3. Căn cứ Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự năm 2015 và Nghị quyết

̀

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ