vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 28/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Văn H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam là 01 tháng 04 ngày (từ ngày 09/8/2019 đến ngày 11/9/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƢ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày 28-02-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Đức Hiển.

2. Ông Nguyễn Thanh Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Lƣu Văn H; Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1981 tại huyện K, thành phố H. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện K, thành phố H. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Lưu Văn K (đã chết) và bà Vũ Thị B; có vợ: Nguyễn Thúy Q, có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/8/2019 đến ngày 18/8/2019 chuyển tạm giam. Ngày 11/9/2019, được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt.

* Bị hại: Ông Hoàng Đình T, sinh năm 1952, cư trú tại: thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Thái Bình; (Đã bị chết)

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện V tỉnh Thái Bình (Là vợ của ông T). Vắng mặt.

2. Anh Hoàng Đức T1, sinh năm 1977, nơi cư trú: số nhà x, phường B, quận y, thành phố Hồ Chí Minh (Là con của ông T). Vắng mặt.

3. Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1980, nơi cư trú: số nhà xx, khu A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình (Là con của ông T). Vắng mặt.

4. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1983, nơi cư trú: số nhà số nhà x, phường B, quận y, thành phố Hồ Chí Minh (Là con của ông T). Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H, anh T1, chị T, chị H: Anh Đỗ Xuân H, sinh năm 1973, địa chỉ: thôn P, xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình. (Văn bản ủy quyền ngày 16/8/2019). Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH giao nhận hàng hóa V. Địa chỉ: Lầu z, Tòa nhà T, số v Nguyễn Văn T, phường xy, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc M - Giám đốc. Vắng mặt.

2. Văn phòng đại diện Công ty TNHH giao nhận hàng hóa V, địa chỉ: Số h, C, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Người đứng đầu văn phòng đại diện: Ông Ngô Xuân H, địa chỉ: bãi T, phường Đ, Quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH giao nhận hàng hóa V và Văn phòng đại diện Công ty TNHH giao nhận hàng hóa V: Ạnh Ngô Trọng Q, sinh năm 1983, chức vụ; Quản lý đội xe, đăng ký thường trú: xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Văn bản ủy quyền số 230919/VCFUQ ngày 23/9/2019. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1974, nơi ĐKHKTT: tổ sx, L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

2. Chị Vũ Thị T, sinh năm 1981, Nơi ĐKHKTT: tổ hg, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

3. Ông Trần Hồng Q, sinh năm 1962, trú tại: thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 07 phút ngày 07/8/2019, Lưu Văn H (có giấy phép lái xe hạng FC hợp lệ), điều khiển xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu FREIGHTLINER, biển số đăng ký 51C-122.98 kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC, biển số đăng ký 15R-013.92 chở gạo, đi trên đường tránh S1, quốc lộ 10, điều khiển xe ô tô đi trên làn giáp dải phân cách cứng theo hướng từ thành phố Hải Phòng về tỉnh Thái Bình để đi tỉnh Thanh Hóa, với tốc độ khoảng 58km/h, trong điều kiện thời tiết ban đêm, khô ráo, tầm nhìn còn hạn chế. Khi đi đến ngã tư nơi giao nhau với đường 220A, thuộc địa phận thôn Khê Kiều, xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, do không chấp hành quy định về tốc độ khi điều khiển xe ô tô đi qua nơi đường giao nhau có tín hiệu đèn giao thông màu vàng nhấp nháy, nên khi thấy ông Hoàng Đình T điều khiển xe máy nhãn hiệu FERROLI, Biển số đăng ký 17AA-200.28, phía sau chở 01 thúng đựng bún đi theo hướng từ xã Minh Khai, huyện Vũ Thư về thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư. H đã rà phanh, giảm tốc độ và đánh lái sang bên trái để tránh ông T, nhưng do khoảng cách quá gần nên mặt dưới, phía trước của khung kim loại cụm đèn pha, đèn xi nhan và mặt trước, trên đầu bên phải ba đờ sốc của xe ô tô đầu kéo đã đẩy vào bên trái đai xách yên, giá đèo hàng bằng gỗ của xe máy, làm cho phần đầu xe máy đập vào vùng ngực của ông T. Đồng thời đẩy thúng bún về phía trước, làm ông T bị văng khỏi xe máy. Bậc lên xuống bên phải xe ô tô đầu kéo tiếp tục trượt, cọ sát với giảm sóc trước bên trái của xe máy, đẩy xe máy đổ nghiêng sang trái trượt, rê trên mặt đường, đầu xe máy hướng về cầu Ngang S1. Ông T bị trượt miết vào má ngoài lốp ngoài trục 2, trục 3 bên phải xe ô tô đầu kéo, đẩy ngã đầu đập xuống đường. Yên xe, đai xách yên và giá đèo hàng bằng gỗ bung ra khỏi xe máy, bị mặt ngoài phía dưới ốp nhựa bậc lên xuống bên phải xe ô tô đầu kéo đẩy trượt trên mặt đường. Ép mặt ngoài phía dưới ốp nhựa bậc lên xuống bên phải xe ô tô đầu kéo vào đầu khung kim loại đỡ bậc lên xuống tạo ra vết gẫy vỡ nhựa không rõ hình thù, hướng từ trong ra ngoài, có kích thước (0.03 x 0,017 x 0,035 x 0,04)m. Hậu quả ông T bị chết ngay tại hiện trường; xe ô tô đầu kéo bị hư hỏng nhẹ; xe máy bị hư hỏng nặng. Sau khi xảy ra tai nạn, H điều khiển xe ô tô đầu kéo rời khỏi hiện trường, bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm. Ngày 09/8/2019, H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, phát hiện bắt giữ tại Công ty cổ phần Vĩnh Thắng thuộc địa phận phường Kim Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, trong khi chờ nhận hàng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Lời khai của những người làm chứng là anh Phạm Văn H1, chị Vũ Thị T, ông Trần Hồng Q; Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, lập hồi 06 giờ 10 phút ngày 07/8/2019, tại ngã tư giao nhau giữa đường tránh S1 Quốc lộ 10 với đường 220A, thuộc địa phận thôn Khê Kiều, xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; Biên bản khám nghiệm tử thi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, lập hồi 07 giờ 35 phút ngày 07/8/2019, tại ngã tư giao nhau giữa đường tránh S1 Quốc lộ 10 với đường 220A, thuộc địa phận thôn Khê Kiều, xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; Biên bản làm việc xem xét, trích xuất dữ liệu camera do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập hồi 10 giờ 00 và 10 giờ 22 cùng ngày 07/8/2019 tại Công ty cổ phần quốc tế Bảo Hưng thuộc địa phận khu công nghiệp Tân Minh, xã Tự Tân, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, lập hồi 14 giờ 00 ngày 07/8/2019, tại Trụ sở Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, lập hồi 23 giờ 00 ngày 08/8/2019, tại Công ty cổ phần Vĩnh Thắng thuộc địa phận phường Kim Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; Biên bản xem xét dấu vết trên phương tiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, lập hồi 16 giờ 05 ngày 12/8/2019, tại Trụ sở Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; Bản kê chi tiết giám sát hành trình xe ô tô đầu kéo Biển số đăng ký 51C-122.98 gửi về Tổng Cục Đường Bộ từ 05 giờ 00 đến 05 giờ 30 ngày 07/8/2019 đều thể hiện như nội dung vụ án.

- Kết luận giám định số 04/KLGĐ-PC09 ngày 23/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kêt luận:“Mảnh nhựa màu đen ghi thu tại hiện trường vụ việc ký hiệu A bị gãy (vỡ) ra từ ốp nhựa bậc lên xuống bên phải thân xe ô tô đầu kéo biển số 51C-122.98”;

- Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 142/PY-PC09 ngày 16/8/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận về nguyên nhân chết của ông Hoàng Đình T: 1. Các dấu hiệu chính qua giám định: Đa chấn thương vùng đầu, tay, chân và toàn thân do tai nạn giao thông làm vỡ xương sọ vùng chẩm phải, vỡ xương bả vai phải, gẫy 7 xương sườn cung sau bên phải, gẫy 3 xương sườn cung sau bên trái, gẫy 07 xương sườn cung trước bên trái. 2. Nguyên nhân chết: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não và sốc đa chấn thương”;

Bản Cáo trạng số 03/KSĐT ngày 26 tháng 12 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Lưu Huy H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38, Điều 50; Điều 41 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi 01 tháng 04 ngày đã bị tạm giữ, tạm giam. Đề nghị cấm bị cáo hành nghề lái xe từ 01 năm đến 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Để trả lại 01 giấy phép lái xe của bị cáo; trả lại 01 xe máy nhãn hiệu FERROLI, 01 mảnh nhựa vỡ chắn bùn phía sau có gắn biển số 17AA- 200.28, 01 đai xách yên xe máy; Tịch thu tiêu hủy: 01 thúng bằng tre, 20 mảnh gỗ vỡ, 20 mảnh nhựa vỡ, 01 quần âu vải màu đen, 01 áo phông ngắn tay cổ tròn màu trắng, 01 áo bu dông dài tay màu cỏ úa, 01 mũ bảo hiểm nửa đầu, 01 mảnh nhựa màu đen của xe ô tô đầu kéo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ T theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình cũng như hậu quả của vụ tai nạn, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về T quyền, trình tự, thủ tục nên là các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không ai khiếu nại hay có ý kiến gì.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Biên bản làm việc xem xét, trích xuất dữ liệu camera tại Công ty cổ phần quốc tế Bảo Hưng; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Biên bản xem xét dấu vết trên phương tiện; Bản kê chi tiết giám sát hành trình xe ô tô đầu kéo; Kết luận giám định số 04/KLGĐ-PC09 ngày 23/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định pháp y tử thi và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ 07 phút ngày 07/8/2019, Lưu Văn H (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu FREIGHTLINER, biển số đăng ký 51C-122.98 kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC, biển số đăng ký 15R-013.92 đi trên đường tránh S1 Quốc lộ 10 theo hướng từ thành phố Hải Phòng về tỉnh Thái Bình. Khi đi đến ngã tư nơi giao nhau với đường 220A, thuộc địa phận thôn Khê Kiều, xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, do không chấp hành quy định về tốc độ khi điều khiển xe ô tô đi qua nơi đường giao nhau và có biển cảnh báo nguy hiểm nên đã gây tai nạn giao thông với ông Hoàng Đình T, điều khiển xe máy nhãn hiệu FERROLI, biển số đăng ký 17AA-200.28, đi theo hướng từ xã Minh Khai, huyện Vũ Thư về thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Hậu quả: ông T chết ngay tại hiện trường. Sau khi xảy ra tai nạn, H điều khiển xe ô tô đầu kéo rời khỏi hiện trường, bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm.

Điều 10 Luật Giao thông đường bộ: Hệ thống báo hiệu đƣờng bộ

...3. Tín hiệu đèn giao thông có ba mầu, quy định như sau:

...c) Tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp; trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường.

Điều 24. Nhƣờng đƣờng tại nơi đƣờng giao nhau:

Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:

…3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới.

Điều 12 Luật Giao thông đường bộ: Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ xe và việc đặt biển báo tốc độ; tổ chức thực hiện đặt biển báo tốc độ trên các tuyến quốc lộ.

3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc đặt biển báo tốc độ trên các tuyến đường do địa phương quản lý.”

Điều 5 Thông tƣ số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015, của Bộ Giao thông vận tải, quy định:

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau:

1. Có biển cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường.

2. Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế...”

Điều 260 Bộ luật Hình sự: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

…c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;…

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Hành vi của bị cáo đã vi phạm điểm c khoản 3 Điều 10; Điều 24; Điền 12 Luật giao thông đường bộ; Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015, của Bộ Giao thông vận tải gây hậu quả làm chết 01 người, sau khi gây tai nạn lại bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm nên bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định này.

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác đồng thời gây tâm lý hoang mang lo ngại cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và được hưởng thêm những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là: đại diện gia đình của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; người bị hại cũng có lỗi là đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ là khi đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm một phần hình phạt đáng kể cho bị cáo xuống dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự nhưng phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng khoản 5 Điều 260 để cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn nhất định sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng), xét thấy sự thỏa thuận trên là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu FREIGHTLINER, biển kiểm soát 51C-122.98, 01 sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC, biển kiểm soát 15R-013.92 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH giao nhận hàng hóa V và Văn phòng đại diện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư đã trả lại xe ô tô đầu kéo trên cho anh Ngô Trọng Q là người được ủy quyền là phù hợp với quy định của pháp luật không ai yêu cầu và có ý kiến gì nên không đặt ra giải quyết.

- 01 xe máy nhãn hiệu FERROLI, 01 mảnh nhựa vỡ chắn bùn phía sau có gắn biển số 17AA- 200.28, 01 đai xách yên xe máy thuộc quyền sở hữu của bị hại cần trả lại cho những người đại diện hợp pháp của bị hại; Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe.

- 01 mảnh nhựa màu đen của xe ô tô đầu kéo, 01 thúng bằng tre, 20 mảnh gỗ vỡ, 20 mảnh nhựa vỡ, 01 quần âu vải màu đen, 01 áo phông ngắn tay cổ tròn màu trắng, 01 áo bu dông dài tay màu cỏ úa, 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu đen không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ T theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 41; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1]. Tuyên bố bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2]. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Lưu Văn H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam là 01 tháng 04 ngày (từ ngày 09/8/2019 đến ngày 11/9/2019).

- Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và những người đại diện hợp pháp của người bị hại là bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng).

[4]. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị H, anh Hoàng Đức T, chị Hoàng Thị T, chị Hoàng Thị H 01 xe máy nhãn hiệu FERROLI, 01 mảnh nhựa vỡ chắn bùn phía sau có gắn biển số 17AA- 200.28, 01 đai xách yên xe máy.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 thúng bằng tre, 20 mảnh gỗ vỡ, 20 mảnh nhựa vỡ, 01 quần âu vải màu đen, 01 áo phông ngắn tay cổ tròn màu trắng, 01 áo bu dông dài tay màu cỏ úa, 01 mũ bảo hiểm nửa đầu, 01 mảnh nhựa màu đen của xe ô tô đầu kéo.

(Vật chứng đang được Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình quản lý theo phiếu nhập kho số: NK: 29 ngày 02/01/2020)

- Trả lại bị cáo Lưu Văn H 01 Giấy phép lái xe số: 310153013333 do Sở giao thông Vận tải Hải Phòng cấp ngày 01/6/2015.

[5]. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ T.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ T 28/02/2020.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ