vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 13/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/11/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn K 45 (Bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van K tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày: 13/02/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Xuân Sinh

Ông Đỗ Đức Tuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Nhật - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn K; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1996.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Sinh trú quán: thôn PL, xã LN, huyện VG, tỉnh HY.

Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lái xe

Họ tên bố: Nguyễn Văn T; Sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị A; Sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Gia đình có 02 anh em, K là thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/11/2019. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Giang.

Theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần HM

Địa chỉ trụ sở chính: HB - TT - VG - HY.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn M - Sinh năm: 1985

Trú tại: HBH - TT - VG - HY.

.* Ngƣời làm chứng:

Ông Nguyễn Xuân M1 - Sinh năm: 1972

Trú tại: AB QT - LN - VG - HY

Ông NguyễnVăn P - Sinh năm: 1978

Trú tại: PL - LN - VG - HY

Tại phiên tòa: ông Hoàng Văn M, ông Nguyễn Xuân M1 và ông Nguyễn Văn P đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 13/11/2019, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về đối tượng có biểu hiện Tàng trữ trái phép chất ma túy tại thôn ĐK, xã LN, huyện VG, tỉnh HY; Lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang tiến hành kiểm tra Nguyễn Văn K trú tại thôn PL, xã LN, huyện VG, tỉnh HY đang mở cửa xe ô tô biển kiểm soát 89A – 037.20 để đi, phát hiện tay trái K đang cất giữ 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng ném ra đường cách vị trí K đứng khoảng 5m. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành thu giữ vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, kiểm tra bên trong có 01 gói nilon màu trắng khóa mép màu trắng, kích thước 4cm x 5cm bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu M. Thu giữ chiếc ô tô taxi loại I10, biển kiểm soát 89A - 037.20 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng đã cũ.

Cùng ngày, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của K nhưng không thu giữ được gì.

Ngày 16/11/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên giám định và kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu M có khối lượng là 0,298g là ma túy loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, K khai khoảng 13 giờ 40 phút ngày 13/11/2019 K điều khiển xe ô tô taxi biển kiểm soát 89A – 037.20 đi làm thì gặp một người đàn ông tên Đ (là bạn nghiện của K, chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ). Đ đưa cho K 140.000đ bảo K mua ma túy về cả hai cùng sử dụng. K điều khiển xe ô tô đến gặp một người đàn ông tên M2 (chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở quán Internet NV thuộc thôn ĐK, xã LN mua của M2 01 gói ma túy với số tiền 140.000đ để sử dụng. Sau đó K ra xe ô tô và mở cửa xe để đi tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang, thu giữ gói ma túy trên.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSVG ngày 13 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo Nguyễn Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Sau khi phân tích đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm, phân tích tính nguy hiểm của tội phạm do bị cáo gây ra, hậu quả của hành vi đối với xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm tạm giữ, tạm giam 13/11/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 46; điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 Phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của phòng kỹ thuật hình sự, bên trong có 0,270gam Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá Thắng Long, màu vàng đã rách.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn K 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6s màu hồng đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, những lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 13 giờ 50 phút ngày 13/11/2019 tại thôn ĐK, xã LN, huyện VG, tỉnh HY, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang bắt quả tang Nguyễn Văn K đang cất giữ trái phép trên người 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,298 gam nhằm mục đích sử dụng.

Bị cáo Nguyễn Văn K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ 0,298 gam ma túy loại Methamphetamine của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn K theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho K có tên là M2 và đối tượng đưa tiền cho K đi mua ma túy có tên là Đ, do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý. Nghiêm trọng hơn, hành vi của bị cáo còn là một trong những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh và lây lan căn bệnh HIV/AIDS, là nguyên nhân huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của con người, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác.

Việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên toà hôm nay không chỉ nhằm mục đích trừng trị, giáo dục giúp bị cáo sớm cai nghiện, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà còn nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong quần chúng nhân dân, từ đó có thái độ tôn trọng pháp luật và phối hợp cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh, phòng chống và loại trừ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội. Việc quyết định hình phạt đối với bị cáo còn là lời cảnh báo, răn đe đối với những người có ý định thực hiện tội phạm về ma tuý nói riêng và các loại tội phạm khác nói chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

. Để đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm, căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy, biết rõ việc tàng trữ trái phép ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng không chịu cai nghiện để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, cộng đồng mà coi thường pháp luật cố tình phạm tội nên cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một hình phạt tương xứng đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung cho mọi người.

. Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì giá trị nên không áp dụng h́ình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 01 Phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của phòng kỹ thuật hình sự, bên trong có 0,270 gam Methamphetamine và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6s màu hồng đã qua sử dụng là của bị cáo Nguyễn Văn K do không sử dụng vào mục đích phạm tội, vì vậy sẽ trả lại bị cáo.

Đối với chiếc xe ô tô taxi, nhãn hiệu Huyndai I10, màu bạc, biển kiểm soát 89A - 037.20: xác định là của Công ty cổ phần HM do ông Hoàng Văn M ở thôn HBH, xã TT, huyện VG làm Giám đốc. Công ty giao xe ô tô cho K để làm dịch vụ vận chuyển hành khách và không biết K sử dụng xe vào mục đích đi mua ma túy về sử dụng. Ngày 03/12/2019 Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho Công ty cổ phần HM, ông M - Giám đốc công ty đã nhận lại chiếc xe và không có yêu cầu, đề nghị gì. Việc giao trả lại xe của Cơ quan điều tra là đúng quy định nên không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 46; điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106; điều 135; điều 136; điều 331; điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/11/2019.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn K 45 (Bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của phòng kỹ thuật hình sự, bên trong có 0,270 gam Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, màu vàng đã rách.

Hoàn trả bị cáo Nguyễn Văn K: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S, màu hồng, số Imei: 35334007497157, bên trong khe sim lắp 01 sim mạng Viettel mặt sau sim có số: 8984048000059878118

(Các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2020 giữa Công an huyện Văn Giang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang)

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ