vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p d ng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cà Thị Thanh ph m tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Xử ph t: Cà Thị T 14 năm 06 tháng tù (mười bốn năm, sáu tháng). Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (13/8/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ca Thi T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? p d ng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày: 16-01-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Cương; ông Vì Văn Đôi.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Quân – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2020, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 02/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 08/ 2020/QĐXXST-HS ngày 03/01/2020, đối với bị cáo sau đây:

Họ và tên: Cà Thị T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cà Văn L (đã chết) và con bà: Lò Thị C; có chồng: Lường Văn H và có 04 con, lớn sinh năm 1994 nhỏ sinh 2007; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12-12-2007 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử ph t 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); ngày 28-9-2012 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử ph t 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Chứa chấp việc sử d ng trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 13/8/2019 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 13-8-2019, tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu C, huyện Sông Mã làm nhiệm v t i khu vực bản C, xã C, Sông Mã phát hiện 01 người ph nữ đang đi bộ về hướng tổ công tác có biểu hiện nghi vấn. Khi bị tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính, người ph nữ khai nhận là Cà Thị T, trú t i bản H, xã C, Sông Mã, T khai vừa mua được ma túy và cất giấu vào trong hậu môn. Tổ công tác đã đưa T về Tr m y tế xã C để kiểm tra. T i đây bác sỹ kiểm tra, phát hiện lấy ra từ trong hậu môn của T 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 196 viên nén màu hồng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người ph m tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Ngày 14-8-2019 t i Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh 196 viên nén màu hồng thu giữ của T nghi là hồng phiến có tổng khối lượng 20,03gam. Đã trích 10 viên có khối lượng 1,01gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu L, vật chứng còn l i 186 viên có khối lượng 19,02gam ký hiệu L1.

Tiếp đến khoảng 18 giờ 15 phút, ngày 14-8-2019 Thanh đã đề nghị cán bộ canh gác buồng t m giữ Đồn biên phòng cửa khẩu C đưa T đến nhà vệ sinh để đi đ i tiện. Sau khi đi vệ sinh xong, T đã tự giao nộp cho cán bộ trực 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa c c bột màu trắng (Thanh khai nhận là Heroine nhét vào trong hậu môn cùng với gói Hồng phiến).

Ngày 15-8-2019 t i Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh số bột liên kết màu trắng thu giữ của T nghi là Heroine có khối lượng 8,94gam, trích 0,48gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T, vật chứng còn l i 8,46gam ký hiệu T1.

T i bản kết luận giám định số 1396 ngày 15/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy; Loại Methamphetamine khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,01gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 20,03gam, loại Methamphetamine”.

Kết luận giám định số 1398 ngày 15/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, Loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 8,94gam, loại Heroine”.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Cà Thị T sử d ng ma túy từ năm 2009. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 13-8-2019 T bảo con trai là Lường Văn D điều khiển xe mô tô của gia đình ch T đến bản C, xã C để lấy măng. Khi đi T mang theo số tiền 2.500.000VNĐ, đến đầu bản C, T bảo con trai dừng xe rồi một mình đi lên khu rừng tre của bản Cỏ m c đích đi mua ma túy để về sử d ng và bán lẻ kiếm lời; còn D điều khiển xe đi về. T đi bộ lên khu vực rừng tre thuộc bản C, xã C thì gặp một người đàn ông quốc tịch Lào qua nói chuyện T hỏi mua được 01 gói Hồng phiến với giá 1.000.000VNĐ và 02 chỉ Heroine với giá 1.500.000VNĐ. Mua được ma túy, T cầm đi về được khoảng 05m thì dừng l i một gốc cây ngồi xuống nhét gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng vào trong hậu môn trước, rồi cho gói nilon màu xanh bên trong chứa Hồng phiến vào sau nhằm trốn tránh sự kiểm tra của lực lượng chức năng. T cất giấu xong, đi bộ về hướng quốc lộ 4G đến khu vực bản Cỏ, Chiềng Khương thì bị tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu C làm nhiệm v phát hiện bắt, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo tr ng số: 02/CT-VKSSM ngày 19 tháng 12 năm 2019, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Cà Thị T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t bị cáo từ 14 năm đến 14 năm 09 tháng tù. Xét hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép chất ma túy với khối lượng đáng kể để sử d ng và bán kiếm lời; vật chứng thu giữ được theo kết luận giám định: Là chất ma tuý, lo i Methamphetamine khối lượng 20,03gam; chất ma túy, lo i Heroin khối lượng 8,94gam. Tổng khối lượng 28,97gam.

3 T i phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của bị cáo c ng phù hợp với biên bản ph m tội qủa tang, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, bị cáo nhất trí và không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin được giảm nh hình ph t. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s để kết luận: Cà Thị Thanh ph m tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội ph m và hình ph t được quy định t i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi ph m tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an t i địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, cải t o, giáo d c và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, (từng có 02 tiền án về tội ma tuý nhưng đã được xoá án tích). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nh là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về số ma tuý thu giữ được trong v án: Bị cáo khai mua được của một người đàn ông dân tộc quốc tịch Lào không quen biết, nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra m rộng v án là phù hợp, cần chấp nhận.

Về nguồn gốc số tiền mua ma túy: Bị cáo khai nhận là vay mượn của Nguyễn Văn D, trú t i bản N, xã C, Sông Mã với số tiền 6.000.000VNĐ từ khoảng tháng 5/2019 m c đích để mua gà, vịt về nuôi. Sau khi đã mua gà, vịt số tiền còn l i 2.500.000VNĐ T sử d ng để mua ma túy. Quá trình điều tra xác minh D không biết việc T sử d ng số tiền vay để đi mua ma túy nên không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

Đối với Lường Văn D là con trai của bị cáo đã ch bị cáo đến bản C, xã C nhưng D không biết việc bị cáo đi mua ma túy nên không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

Vật chứng v án còn l i gồm: 186 viên Methamphetamine có khối lượng 19,02gam và 8,46gam Heroine đều là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên miễn hình ph t bổ sung (là phạt tiền) cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định chung.

Về đề xuất mức án của Kiểm sát viên t i phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Đối với bản cáo tr ng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo (điểm i) của khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là chưa đúng, do đó Hội đồng xét xử sẽ áp d ng (điểm p) của khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự cho chính xác.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. p d ng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cà Thị Thanh ph m tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử ph t: Cà Thị T 14 năm 06 tháng tù (mười bốn năm, sáu tháng). Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (13/8/2019).

2. Vật chứng: p d ng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

Tịch thu để tiêu hu : 19.02 gam Methamphetamine và 8,46gam Heroine được niêm phong, mô tả như: (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/12/2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: p d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ