- Tranh chấp gì? án hình sự — "K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HS-ST Ngày 11/3/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Khảnh và bà Trần Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê T Hưng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Lê Huy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2020/HSST ngày 10 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Đăng K, sinh năm 1993; ĐKTT: Khu phố H, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị T (chết); Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu; Có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/12/2019 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hòa, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn N - Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn N – Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn H, sinh năm 1966; Trú tại: Khu phố H, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1995; Trú tại: Khu phố H, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 15/12/2019, Nguyễn Hữu T điều khiển xe mô tô, biển số 78G1 – 286.89 (do ông Nguyễn H, cha T làm chủ sở hữu) chở Nguyễn Đăng K đi chơi. Trên đường đi, T và K ghé vào cây xăng Hòa Vinh 2, thuộc khu phố M, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên để đi vệ sinh. Lúc này, K và T mỗi người vào một phòng riêng. K lấy 01 bịch ni lông bên trong có 11 tép ma túy ra để sử dụng. K sử dụng hết 02 tép, còn lại 09 tép K cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi ra ngoài thì bị lực lượng Công an huyện Đông Hòa kiểm tra bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên.
Tại bản Kết luận giám định số 231/GĐ-PC09 ngày 17/12/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Chất bột màu trắng trong 09 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là 0.242 gam.
* Vật chứng vụ án:
- Đã thu giữ trả lại cho chủ sở hữu: 01 xe mô tô, biển số 78G1 – 286.89, kiểu dáng Wave màu xanh.
- Đã thu giữ chờ xử lý: 0,173g Heroine còn lại sau giám định; 09 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 bịch ni lông.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKSĐH ngày 07/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Đăng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đăng K thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0.242 gam Heroine với mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu.
Sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đăng K từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2019.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với xe mô tô, biển số 78G1 – 286.89, kiểu dáng Wave màu xanh, quá trình điều tra đã xác định và trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn H, sinh năm 1966; Trú tại: Khu phố H, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,173g Heroine còn lại sau giám định; 09 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 bịch ni lông.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến: Thống nhất với tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét mức án thấp hơn VKS đề nghị và xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, luật sư bào chữa, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người tham gia tố tụng cung cấp:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không khiếu nại gì đối với các quyết định, văn bản tố tụng ở giai đoạn điều tra nên đều là chứng cứ hợp pháp.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ được. Do đó, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/12/2019, tại Khu phố M, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, Công an huyện Đông Hòa kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Đăng K có hành vi tàng trữ trái phép 0,242 gam ma túy, loại Heroine. Hành vi của bị cáo K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 07/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hòa truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất Nhà nước cấm, ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Đăng K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Xét thấy, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp du ̣ng để giảm nhe ̣ cho bi ̣ cáo khi lượng hinh , để bị
̀ cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luâ ̣t mà phấn đấu tự rèn luyê ̣n , tu dưỡng đa ̣o đứ c trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công việc làm, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 0,173g Heroine còn lại sau giám định; 09 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 bịch ni lông; Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/02/2020, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hòa và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hòa.
Đối với xe mô tô, biển số 78G1 – 286.89, kiểu dáng Wave màu xanh, quá trình điều tra đã xác định và trả lại cho chủ sở hữu nên không xét.
Đối với Nguyễn Hữu T: Khi kiểm tra bắt quả tang, không thu giữ được ma túy trên người của T, T khai không biết việc K tàng trữ ma túy trong người nên không có căn cứ xác định là đồng phạm. Do đó, Cơ quan điều tra không khởi tố điều tra là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về đối tượng bán ma túy cho bị cáo K, cơ quan điều tra không làm rõ được lai lịch nên không có cơ sở xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố:
1. Bị cáo Nguyễn Đăng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 15/12/2019.
2. Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 0,173g Heroine còn lại sau giám định; 09 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 bịch ni lông; Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/02/2020, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hòa với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hòa.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đăng K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND huyện Đông Hòa; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Hòa; - Chi cục THADS huyện Đông Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mai Tấn Hồng |