vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 18/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/11/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN HSST ĐẶNG QUỐC NHÂN - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:05/2020/HS-ST
Ngày: 18/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Kim Hà

Các Hội thẩm Nhân dân:

1/ Ông Lê Văn Minh

2/ Bà Dương Thị Thu Vân

-Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2020/HSST ngày 06/01/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Quốc N, sinh năm 1997 tại tỉnh Tiền Giang

Nơi cư trú: Ấp TX, xã THĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang

Nghề nghiệp: thợ sơn

Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn T và bà Lê Thị Đ; Bị cáo có 01 người em sinh năm 2006; Bị cáo có vợ tên Võ Huỳnh Dạ T1, có 01 con sinh ngày 17/11/2019.

Tiền án: không;

Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/11/2019, tạm giam từ ngày 30/11/2019, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Đặng Văn T, sinh năm 1976 ( có mặt)

Địa chỉ: Ấp TX, xã THĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang

2/ Lê Thị Đ, sinh năm 1978 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp KP, xã THĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang

3/ Võ Huỳnh Dạ T1, sinh năm 2001 ( có mặt)

Địa chỉ: Ấp TP1, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang

- Người làm chứng:

Đinh Triều M, sinh năm 1954 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TX, xã THĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/11/2019 Đặng Quốc N liên lạc và điều khiển xe mô tô 02 bánh, biển số 63B3-712.78 đến gặp một người (không rõ họ tên, địa chỉ) tại địa phận thành phố Tân An, tỉnh Long An mua ma túy với số tiền 1.500.000đồng rồi mang về nhà cất giấu. Theo N khai khoảng 08 giờ ngày 26/11/2019 đối tượng nam tên T2 (không rõ họ, địa chỉ) điện thoại cho N nhờ mua ma túy tổng hợp dạng đá với số tiền 1.500.000đồng, T2 hẹn chiều cùng ngày sẽ đến nhà N tại Ấp TX, xã THĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang để lấy ma túy trả tiền N, cho N 200.000đồng và cùng sử dụng ma túy.

Đến 18 giờ cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô 02 bánh, biển số 71B2-664.54 đến nhà N, tại đây cả hai cùng sử dụng ma túy, sau khi sử dụng xong, T2 yêu cầu N đưa ma túy cho mình, do không có tiền nên T2 đề nghị thế chấp xe mô tô 02 bánh, biển số 71B2-664.54 lấy ma túy nhưng N không đồng ý. Sau đó N để hai gói nylon màu trắng hàn kín chứa ma túy vào 01 túi nylon màu đen rồi treo lên vách tường phòng ngủ của N cất giấu, lúc này T2 bỏ đi và để lại xe 71B2-664.54 tại nhà N. Đến khoảng 10 giờ 50 phút ngày 27/11/2019, lực lượng công an kiểm tra, phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng và đồ vật thu giữ gồm:

- 01 gói niên phong, bên trong có 02 (hai) gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt nghi là ma túy tổng hợp, bên ngoài gói niêm phong có chữ ký ghi họ tên Đặng Quốc N.

- 01 cân tiểu ly vỏ màu đen, mặt trước có ghi chữ Amput;

- 01 cây tiêm dùng để châm lửa hút ma túy;

- 01 quẹt gas bằng nhựa màu đỏ;

- 01 quẹt gas bằng nhựa màu cam;

- 05 ống nhựa loại ống dùng để hút, trong đó có 01 ống được cắt nhọn một đầu;

- 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (gọi là nỏ) dùng để sử dụng ma túy;

- 01 chai thủy tinh hình tròn có gắn một đoạn chai nhựa phía trên;

- 48 bịch nylon chưa qua sử dụng không có chứa gì bên trong;

- 01 bịch nylon màu đen;

- 01 điện thoại di động vỏ màu vàng, mặt sau có chữ OPPO là của Đặng Quốc N sử dụng để mua ma túy;

- 01 xe mô tô hai bánh biển số 63B3-712.78 do Đặng Quốc N đứng tên chủ sở hữu;

- 01 điện thoại di động vỏ màu vàng, mặt sau có chữ Samsung

- 01 xe mô tô hai bánh biển số 71B2-664.54

Tại kết luận giám định số 204/KLGĐ-PC09 ngày 28/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

Các mẫu tinh thể trong suốt trong 02 (hai) gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi họ tên: Đặng Quốc N; gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 3,6622gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSCT ngày 03 tháng 1 năm 2020 của Viện kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Đặng Quốc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo biết sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Huỳnh Dạ T1 yêu cầu được nhận lại xe 63B3-712-78 để có phương tiện sử dụng đi làm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Văn T, Lê Thị Đ yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình đi làm nuôi vợ con.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và không thay đổi. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38, điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động vỏ màu vàng, mặt sau có chữ OPPO; 01 xe mô tô biển số 63B3-712.78 do bị cáo dùng làm phương tiện để mua ma túy, bị cáo và chị T1 chỉ sống chung như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn và chị T1 không có chứng cứ chứng minh là tài sản chung của vợ chồng. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy và các vật chứng còn lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra truy tố xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận vào ngày 26/11/2019 bị cáo điều khiển xe mô tô hai bánh, biển số 63B3-712.78 đến gặp 01 đối tượng tại địa phận thành phố Tân An, tỉnh Long An để mua ma túy mang về nhà cất giấu do trước đó có đối tượng tên T2 điện thoại cho bị cáo nhờ mua ma túy. Sau đó bị cáo và T2 đã cùng sử dụng ma túy. Do T2 không có tiền trả cho bị cáo nên bị cáo để 02 gói nylon màu trắng hàn kín chứa ma túy bên trong vào 01 túi nylon màu đen rồi treo lên vách tường phòng ngủ cất giấu thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang. Xét thừa nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố. Kết quả giám định lượng ma túy thu giữ có khối lượng 3, 6622gam, loại Methamphetamine. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về ma túy, gây mất trật tự tại địa phương, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện, sử dụng ma túy làm tổn hại đến sức khỏe và còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng, do vậy cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên để có một mức án cho phù hợp với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải xem xét đến nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình. Do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem đây là tình tiết để giảm nhẹ phần nào mức hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Song xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để đủ cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng để phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

Đối với đối tượng là người bán ma túy cho bị cáo và đối tượng tên T2 là người nhờ bị cáo N mua dùm ma túy và là người sử dụng xe mô tô 02 bánh biển số 71B2-664.54, do không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở xác minh, xử lý.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô hai bánh biển số 71B2-664.54. Qua xác minh, xe này do ông Nguyễn Văn D, ngụ số 531, khu phố 1, thị trấn GT, huyện GT, tỉnh Bến Tre đứng tên chủ sở hữu. Năm 2015, ông D bán xe cho một thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 3.500.000đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán, chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Do chưa xác định được chủ sở hữu nên cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, xử lý sau, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 điện thoại di động vỏ màu vàng, mặt sau có chữ Samsung; Đây là tài sản hợp pháp của ông Đặng Văn T không liên quan vụ án, cơ quan điều tra đã trao trả xong cho ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 xe mô tô hai bánh biển số 63B3-712.78. Bị cáo khai chiếc xe này do ông Đặng Văn T là cha ruột của bị cáo cho 10.000.000đồng, bị cáo và chị Võ Huỳnh Dạ T1 góp thêm 9.000.000đồng để mua. Tại phiên tòa, ông T không yêu cầu gì đối với xe, chị T1 yêu cầu trả xe cho chị sử dụng làm phương tiện đi lại làm ăn sinh sống. Xét bị cáo và chị Võ Huỳnh Dạ T1 sống chung như vợ chồng từ cuối năm 2018 nhưng không có đăng ký kết hôn, xe do bị cáo mua đầu năm 2018 và đứng tên sở hữu, chị T1 trình bày xe do chị góp tiền mua nhưng chị cũng không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét trả lại lại xe cho chị T1, xe này bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động vỏ màu vàng, mặt sau có chữ OPPO, điện thoại này do bà Lê Thị Đ là mẹ ruột bị cáo cho bị cáo 3.000.000đồng để mua. Tại phiên tòa, bà Đ không có yêu cầu gì đối với điện thoại. Do đây là điện thoại bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với các vật chứng gồm:

- 01(một) bì thư niêm phong ký hiệu vụ số: 204 ghi ngày 28 tháng 11 năm 2019 có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên - Bên giao), Huỳnh Thị Diệu Hương (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Điệp (bên nhận) và hình đấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín chứa 3,5219 gam là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine và 02 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

- 01 (một) cân tiểu ly vỏ màu đen, mặt trước có ghi chữ Amput

- 01 (một) cây tiêm dùng để châm lửa hút ma túy

- 01 (một) quẹt gas bằng nhựa màu đỏ

- 01 (một) quẹt gas bằng nhựa màu cam

- 05 (năm) ống nhựa loại ống hút dùng để hút, trong đó có một ống được cắt nhọn một đầu

- 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (gọi là nỏ) dùng để sử dụng ma túy

- 01 (một) chai thủy tinh hình tròn có gắn một đoạn chai nhựa phía tên

- 48 (bốn mươi tám) bịch nylon chưa qua sử dụng không có chứa gì bên trong

- 01 (một) bịch nylon màu đen

Đây là vật cấm tàng trữ và là vật bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Xét quan điểm luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38, 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/11/2019.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước:

- 01 xe mô tô 02 bánh biển số kiểm soát 63B3-712.78, không có gương chiếu hậu bên phải, có bửng.

- 01 điện thoại di động vỏ màu vàng, mặt sau có chữ OPPO, kính màu hình bị rạn nứt, không kiểm tra được số IMEI.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01(một) bì thư niêm phong ký hiệu vụ số: 204 ghi ngày 28 tháng 11 năm 2019 có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên - Bên giao), Huỳnh Thị Diệu Hương (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Điệp (bên nhận) và hình đấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG;

- 01 (một) cân tiểu ly vỏ màu đen, mặt trước có ghi chữ Amput

- 01 (một) cây tiêm dùng để châm lửa hút ma túy

- 01 (một) quẹt gas bằng nhựa màu đỏ

- 01 (một) quẹt gas bằng nhựa màu cam

- 05 (năm) ống nhựa loại ống hút dùng để hút, trong đó có một ống được cắt nhọn một đầu

- 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (gọi là nỏ) dùng để sử dụng ma túy

- 01 (một) chai thủy tinh hình tròn có gắn một đoạn chai nhựa phía tên

- 48 (bốn mươi tám) bịch nylon chưa qua sử dụng không có chứa gì bên trong

- 01 (một) bịch nylon màu đen

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/01/2020 tại Chi cục Thi hành an dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án,

Cỡ chữ