- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Duy Th và Dương Thị H yêu cầu ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TH XÃ Ĩ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST Ngày 26-3-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N N TH XÃ Ĩ AN, T NH NH Ư NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 1120/2020/TLST-HNGĐ ngày 03-12-2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2020, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Anh Phan Duy Th, sinh năm 1967; thƣờng trú: Số 39/13 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Dƣơng Thị H, sinh năm 1970; thƣờng trú: Số 39/13 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.
NỘI UNG VỤ N:
Theo đơn khởi kiện ngày 21-10-2019 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Phan Duy Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Th và chị H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1991, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Th, tỉnh Ngh. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống anh Th đã làm mất giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, Ủy ban nhân dân xã V đã làm mất sổ quản lý đăng ký kết hôn nên không thực hiện việc trích sao cho anh đƣợc. Tuy nhiên, theo giấy xác nhận mối quan hệ ngày 16/9/2019 của anh Phan Duy Th thì Ủy ban nhân dân xã V, huyện Th đã chứng nhận anh Th và chị H đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V. Anh Th xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2011 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, lối sống, chị H không quan tâm đến bố mẹ chồng. Từ khoảng năm 2013, vợ chồng tuy sống chung một nhà nhƣng không còn nói chuyện với nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Đến đầu năm 2019, nhận thấy cuộc sống vợ chồng ngày càng mệt mỏi, căng thẳng nên anh Th đã chuyển ra khỏi nhà. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh Th xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với chị H.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung tên Phan Duy Q, sinh ngày 17/4/1993 và Phan Duy L, sinh ngày 12/9/2003. Hiện nay các con đang ở với chị H tại số 39/13 khu phố Tây A, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Sau khi ly hôn anh Th giao con chung tên Phan Duy L, sinh ngày 12/9/2003 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Anh Th thực hiện cấp dƣỡng nuôi con 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi. Đối với con Phan Duy Q, sinh ngày 17/4/1993 đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Dƣơng Thị H đã đƣợc Tòa án thông báo tham gia tố tụng, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng chị không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN Đ NH CỦA TÒA N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Dƣơng Thị H có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và hiện đang sinh sống tại khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 09/3/2020 và ngày 26/3/2020 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Th không giao nộp đƣợc chứng cứ là bản chính hoặc bản sao giấy chứng nhận kết hôn. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân xã V, huyện Th, tỉnh Ng nơi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn đã có xác nhận về quan hệ hôn nhân giữa anh Th và chị H; đồng thời quá trình chung sống anh Th, chị H đã có hai con chung là Phan Duy Q, sinh ngày 17/4/1993 và Phan Duy L, sinh ngày 12/9/2003; cháu Q và cháu L đều đƣợc đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Th, tỉnh Ngh, nội dung khai sinh thể hiện họ tên mẹ Dƣơng Thị H và họ tên cha Phan Duy Th. Nhƣ vậy, có cơ sở khẳng định quan hệ hôn nhân giữa anh Th và chị H là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Anh Th xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2011 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhn mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, chị H không quan tâm đến bố mẹ chồng. Tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, vợ chồng sống chung một nhà nhƣng không nói chuyện với nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Đến đầu năm 2019, nhận thấy cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng nên anh Th đã chuyển đi, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay và yêu cầu đƣợc ly hôn.
[2.3] Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng cần phải thƣơng yêu, tin tƣởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Anh Th xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Chị H đã đƣợc Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải nhƣng đều vắng mặt, không cung cấp lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh, trƣớc khi Tòa án thụ lý vụ án anh Th và chị H không ai có đơn đề nghị hòa giải tại cơ sở. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh Th và chị H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, anh Th yêu cầu đƣợc ly hôn với chị H là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung tên Phan Duy Q, sinh ngày 17/4/1993 và Phan Duy L, sinh ngày 12/9/2003. Hiện nay các con đang ở với chị H tại số 39/13 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Sau khi ly hôn, anh Phan Duy Th đề nghị giao con chung tên Phan Duy L, sinh ngày 12/9/2003 cho chị Dƣơng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án chị H đƣợc Tòa án triệu tập làm việc nhƣng vắng mặt, không có ý kiến về con chung, về cấp dƣỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong bản khai cung cấp cho Tòa án cháu L mong muốn tiếp tục chung sống với mẹ; anh Th không trực tiếp nuôi con nhƣng tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng. Vì vậy, để cháu L không bị ảnh hƣởng về tâm lý, về nơi ở và kết quả học tập. Căn cứ các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung tên Phan Duy Luật, sinh ngày 12/9/2003 cho chị Dƣơng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Về cấp dƣỡng, anh Th tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với con chung tên Phan Duy Q, sinh ngày 17/4/1993 đã trƣởng thành, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phan Duy Th phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và các Điều 227, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Duy Th đối với chị Dƣơng Thị H về việc ly hôn, nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Duy Th đƣợc ly hôn với chị Dƣơng Thị H.
- Về con chung: Anh Phan Duy Th giao con chung tên Phan Duy L, sinh ngày 12/9/2003 cho chị Dƣơng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.
- Về cấp dƣỡng nuôi con: Anh Phan Duy Th thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con tên Phan Duy L, sinh ngày 12/9/2003 số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng; thời hạn cấp dƣỡng kể từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày ngƣời đƣợc yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Sau ly hôn, anh Th và chị H đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Th lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị H nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
- Đối với con chung tên Phan Duy Q, sinh ngày 17/4/1993 đã trƣởng thành, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phan Duy Th phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và án phí cấp dƣỡng nuôi con; đƣợc khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0029688, ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Phan Duy Th còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Dĩ An; - Chi cục THADS thị xã Dĩ An; - UBND xã V, huyện Th, tỉnh Ngh; - Đƣơng sự; - Lƣu: VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |