- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị P và anh Đinh Mạnh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HNGĐ - ST Ngày: 14/01/2020 V/v ly hôn giữa chị P và anh T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Đức;
Ông Trần Đình Phấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 215/2019/TLST - HNGĐ, ngày 11/12/2019, về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2020/QĐST - HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị P, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Xóm 1, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “có mặt”.
- Bị đơn: Anh Đinh Mạnh T, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: Xóm 1, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; „có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04/11/2019, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Mạnh T tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định cấp đăng ký kết hôn vào ngày 14/3/2006. Trong quá trình chung sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau, anh Tạo còn đánh đập chị, nguyên nhân do tính tình, lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra gia đình đã động viên khuyên giải để nhằm hàn gắn hạnh phúc vợ xong không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ không còn hạnh phúc nên nguyện vọng của chị được xin ly hôn anh Đinh Mạnh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Đinh Quốc C, sinh ngày 15/5/2007 và Đinh Minh P, sinh ngày 14/01/2009; hiện hai con đang ở với anh T. Tại khởi kiện và bản tự khai khi ly hôn chị xin nhận nuôi cả hai con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Sau đó chị xin thay đổi nuôi con là xin nhận nuôi con Cường, còn để anh T nuôi con P, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện chị đang làm nghề buôn bán ở trên Hà Nội mức thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/tháng.
Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản: Vợ chồng không có tài sản, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/12/2019, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn anh Đinh Mạnh T trình bày: Chị P trình bày về việc kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình, lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, chị P không quan tâm đến gia đình, anh có nói thì chị P cãi lại nên anh có tát chị vài cái. Từ năm 2016 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ không còn hạnh phúc, chị P có đơn xin ly hôn anh hoàn toàn nhất trí.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như chị P trình bày là đúng. Khi ly hôn quan điểm của anh là nhận nuôi cả hai con và không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con, mặt khác anh tôn trọng ý kiến của các con ở với ai do các con quyết định. Hiện anh đang làm nghề cơ khí ở trên Hà Nội mức thu nhập bình quân khoảng 11 triệu đồng/tháng.
Về tài sản và nghĩa vụ tài sản: Vợ chồng không có tài sản, không nợ nần liên quan kinh tế với ai, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Kết quá xác minh thu thập chứng cứ tại UBND xã X: Chị Phạm Thị P và anh Đinh Mạnh T đều có hộ khẩu tại: Xóm 01, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã X cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/3/2006. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, ngoài ra do anh T nghiện rượu, không tu chí làm ăn. Vợ chồng không còn tình cảm và đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay, nay chị P có nguyện vọng xin ly hôn anh T, anh T nhất trí. Căn cứ vào tình trạng mâu thuẫn vợ chồng cũng như nguyện vọng của đôi bên, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn giữa chị P và anh T.
Về con chung: Chị P và anh T có 02 con chung tên là Đinh Quốc C, sinh ngày 15/5/2007 và Đinh Minh P, sinh ngày 14/10/2009; hiện hai con đang ở với anh T. Căn cứ vào nguyện vọng của con chung, khả năng kinh tế và điều kiện chăm sóc của chị P và anh T đề nghị Tòa án nên giao mỗi người nuôi một con là phù hợp.
Về tài sản: Chị P và anh T không có tài sản, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đều đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào: Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị P và anh Đinh Mạnh T. Về con chung: Chị P và anh T có 02 con chung tên là Đinh Quốc C, sinh ngày 15/5/2007 và Đinh Minh P, sinh ngày 14/10/2009; hiện hai con đang ở với anh T. Căn cứ vào: Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Phạm Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Đinh Quốc C; giao cho anh Đinh Mạnh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, gio dục con Đinh Minh P, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Về tài sản: Đương sự không yêu cầu là phù hợp. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P và anh Đinh Mạnh T có quan hệ hôn nhân hợp pháp, đăng ký kết hôn ngày 14 tháng 03 năm 2006 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Xét thấy, cuộc hôn nhân giữa chị P và anh T không tồn tại, sống với nhau không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay chị P xin ly hôn anh T, anh T hoàn toàn nhất trí nên HĐXX xử công nhận thuận tình ly hôn giữa các đương sự là phù hợp quy đị nh tạ i Điề u 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Chị Phạm Thị P và anh Đinh Mạnh T có 02 con chung tên là Đinh Quốc C, sinh ngày 15/5/2007 và Đinh Minh P, sinh ngày 14/10/2009; hiện hai con đang ở với anh T. Nay ly hôn chị P xin nhận nuôi con C, anh T xin nhận nuôi cả hai con, hai bên không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, để đảm bảo cho con chung được phát triển tốt về thể chất và tinh thần cũng như căn cứ vào điều kiện kinh tế, khả năng chăm sóc của từng người, nguyện vọng của con C xin ở với mẹ, nguyện vọng của con P xin ở với bố, khi bố mẹ ly hôn nên Hội đồng xét xử sẽ giao cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con C, giao cho anh T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục con P, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Chị P và anh T không có tài sản, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.
Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị P phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 55, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị P và anh Đinh Mạnh T.
2. Về nuôi con chung chưa thành niên: Giao cho chị Phạm Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Đinh Quốc C, sinh ngày 15/5/2007. Giao cho anh Đinh Mạnh T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Đinh Minh P, sinh ngày 14/10/2009. Chị P và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do mình không trực tiếp nuôi dưỡng và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Buộc anh Đinh Mạnh T phải giao con C cho chị Phạm Thị P nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
3. Án phí: Chị Phạm Thị P phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001667 ngày 11/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; chị Phạm Thị P đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ tuyên án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND + VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Xuân Trường; - Chi cục THADS huyện Xuân Trường; - UBND xã X; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Ngọc Long |