- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Kim N - Nguyễn Trung H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN VĨNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH ĐỊNH Bảnánsố:05/2020/HNGĐ-ST Ngày: 10/7/2020 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Duân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Cảnh
2. Ông Đặng Như Huy
- Thư ký phiên tòa: Anh Nguyễn Văn Tín, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Bạch Nam Chu Lai – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 22/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2020, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Kim N – sinh năm: 1991;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung H - sinh năm: 1989;
Cùng địa chỉ: Thôn Vĩnh Thái, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 09/3/2020, được bổ sung bằng bản tự khai ngày 12/3/2020 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Đoàn Thị Kim N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu Tôi và anh Nguyễn Trung H kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và đến UBND xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định để đăng ký kết hôn và được UBND xã Vĩnh Thịnh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 17/2014 ngày 31/3/2014.
Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống hạnh phúc lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình và sinh được 01 người con. Tuy nhiên, từ đầu năm 2017 đến nay vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vì lý do, chồng tôi thường xuyên uống rượu về nhà đánh đập vợ con. Vì thương con nên tôi đã nhiều lần bỏ qua để vợ chồng sống vui vẻ, hạnh phúc hơn nhưng anh H vẫn không thay đổi. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tôi làm đơn này kính mong Tòa án xem xét giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Trung H.
Về con chung : Trong thời kì hôn nhân tôi và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Đoàn Thiên  – sinh ngày: 01/10/2017. Khi ly hôn, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Về ý kiến giải quyết vụ án, căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đoàn Thị Kim N; Về con chung: Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu Nguyễn Đoàn Thiên  (sinh ngày: 01/10/2017) cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, về nợ chung: Không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn anh H cư trú tại huyện Vĩnh Thạnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng, đủ về thủ tục tố tụng, tạo điều kiện, đảm bảo quyền của đương sự tham gia tố tụng theo quy định. Nguyên đơn chị N chấp hành nghiêm túc, đầy đủ. Riêng bị đơn anh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh H đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ hợp pháp của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã tống đạt, thông báo, triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh H tiếp tục vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh H.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân của chị Đoàn Thị Kim N và anh Nguyễn Trung H được xác lập kể từ khi anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2014 tại UBND xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định - Đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình Tòa án làm việc, tiến hành xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử xét nhận thấy: Thực tế tình trạng hôn nhân của chị N và anh H đúng như lời khai của chị N. Mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu xảy ra từ năm 2017, nguyên nhân do anh H sống không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên ăn nhậu, bê tha không lo phát triển kinh tế gia đình. Từ ngày xảy ra mâu thuẫn nêu trên cho đến nay, chị N và anh H bỏ mặc, không quan tâm gì đến nhau. Tại phiên tòa, chị N giữ nguyên yêu cầu ly hôn anh H. Như vậy, có cơ sở chứng minh hôn nhân của chị N và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.
[3]. Về con chung: Xét yêu cầu của chị Đoàn Thị Kim N về việc: Khi ly hôn, chị yêu cầu cho chị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đoàn Thiên  (sinh ngày: 01/10/2017), chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Cháu  hiện đang được chị N trực tiếp nuôi dưỡng; Bản thân anh H không phản hồi ý kiến về việc tranh chấp quyền nuôi con; Do đó, xét các điều kiện thực tế để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Â, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Đoàn Thiên  (sinh ngày: 01/10/2017) cho chị N được tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xét; Đồng thời đảm bảo theo luật định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ sau khi ly hôn đối với con chung, là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4].Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đoàn Thị Kim N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5]. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Đoàn Thị Kim N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009761 ngày 09/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
[6]. Với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Ô
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đoàn Thị Kim N, chị Đoàn Thị Kim N được ly hôn anh Nguyễn Trung H.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Đoàn Thị Kim N: Giao cháu: Nguyễn Đoàn Thiên  (sinh ngày: 01/10/2017) cho chị N được tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Chị Đoàn Thị Kim N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đoàn Thị Kim N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009761 ngày 09/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
Chị Đoàn Thị Kim N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Anh Nguyễn Trung H không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày anh H nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Vĩnh Thạnh; - CCTHADS huyện Vĩnh Thạnh; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; (UBND xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định) - P.KTNV và THA - TAND tỉnh Bình Định; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘIĐỒNGXÉTXỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN– CHỦ TỌAPHIÊN TÒA Phan Thanh Duân |