- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "XIN LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh H về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” với anh Vũ Duy Ph.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST Ngày: 14/02/2020 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Và Kíu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài
Ông Đặng Quang Hoạch.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Mạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 895/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/01/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp X, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Vũ Duy Ph, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(chị H có mặt, anh Ph vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Vũ Duy Ph tự nguyện yêu thương và có đăng ký kết hôn ngày 26/12/2016 tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do không có sự tin tưởng nhau về tình cảm, anh Ph không quan tâm đến vợ con. Ngoài ra, anh Ph còn thường xuyên uống rượi và dùng vũ lực để đánh chị. Do vậy, từ tháng 7/2019 thì vợ chồng không chung sống với nhau. Nay tình cảm của chị H đối với anh Ph không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại tòa, chị H xác định giữa chị và anh Ph không còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Duy Ph.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 03 (ba) con chung là Vũ Thị Anh Th – sinh ngày 13/8/2011; Vũ Thị Minh T – sinh ngày 13/8/2011 và Vũ Đăng Kh – sinh ngày 18/4/2014. Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi ba con chung và không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Vũ Duy Ph trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Duy Ph và chị H tự nguyện yêu thương và có đăng ký kết hôn ngày 26/12/2016 tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng cũng có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vấn đề kinh tế không có sự tin tưởng nhau. Từ khoảng tháng 10/2019 vợ chồng không sống chung với nhau. Nay tình cảm của anh đối với chị H vẫn còn. Do vậy chị H yêu cầu xin ly hôn thì anh không đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 03 (ba) con chung là Vũ Thị Anh Th – sinh ngày 13/8/2011; Vũ Thị Minh T – sinh ngày 13/8/2011 và Vũ Đăng Kh – sinh ngày 18/4/2014. Trong trường hợp ly hôn thì anh Ph đồng ý giao 03 con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh không cấp dưỡng nuôi con do chị H chưa yêu cầu.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về nội dung: Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị H được ly hôn với anh Ph. Về con chung: Giao cháu Anh Th, Minh T và cháu Kh cho chị H nuôi dưỡng, tạm thời anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Đương sự phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Chị Nguyễn Thị Thanh H yêu cầu ly hôn với anh Vũ Duy Ph sinh năm: 1986, có nơi cư trú tại: Ấp T, xã Đ, huyện T, Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Về Thủ tục tố tụng: Bị đơn – là anh Vũ Duy Ph có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 14/01/2020. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Vũ Duy Ph.
Về yêu cầu khởi kiện:
3.1 - Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Ph được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 26 tháng 12 năm 2016, hôn nhân của chị H và anh Ph phù hợp với các Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa, Chị H giữ nguyên ý kiến xin được ly hôn với anh Vũ Duy Ph.
Chị H và anh Ph đều thừa nhận cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do không có sự tin tưởng nhau về vấn đề kinh tế lẫn tình cảm. Từ khoảng tháng 10/2019 thì vợ chồng không sống chung với nhau, không ai quan tâm, chăm sóc nhau, mạnh ai người đó sống, vợ chồng không thương yêu, quý trọng nhau, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Anh Ph cho rằng vẫn còn tình cảm với chị H và có nguyện vọng được đoàn tụ gia đình, tuy nhiên anh Ph không đưa ra biện pháp nào để hàn gắn tình cảm với chị H.
Mặc khác, Tòa án đã triệu tập anh Ph đến Tòa án để tham gia buổi hòa giải để đưa ra những biện pháp tích cực để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ xây dựng gia đình. Tuy nhiên tại buổi hoà giải cũng như tại phiên tòa, anh Ph vắng mặt thể hiện việc không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ gia đình.
Từ những nhận định, phân tích trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Ph đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H yêu cầu ly hôn với anh Ph là có căn cứ phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 xét cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H.
3.2 - Về con chung: Chị H, anh Ph 03 (ba) con chung là Vũ Thị Anh Th – sinh ngày 13/8/2011; Vũ Thị Minh T – sinh ngày 13/8/2011 và Vũ Đăng Kh – sinh ngày 18/4/2014. Hiện các con chung dang được chị H trực tiếp chăm sóc. Hơn nữa, cháu Anh Th và Minh T có nguyện vọng được ở chung với mẹ. Vì vậy để ổn định cuộc sống của con trẻ, đảm bảo cho con có môi trường sống và phát triển tốt nhất, cần tiếp tục giao 03 (ba) con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là đúng theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con. Do vậy, tạm thời anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con.
3.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chị Hồng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; 35; 39; 147; 220; 227; 228; 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 8; Điều 9; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh H về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” với anh Vũ Duy Ph.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Vũ Duy Ph.
2. Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Anh Th – sinh ngày 13/8/2011; Vũ Thị Minh T – sinh ngày 13/8/2011 và Vũ Đăng Kh – sinh ngày 18/4/2014 cho chị Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tạm thời anh Vũ Duy Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Vũ Duy Ph được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thanh H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị Hồng đã nộp theo biên lai thu số 0007347 ngày 03 tháng 12 năm 2019 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.
5. Chị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Ph được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAT, THA,VKS; - Đương sự; - UBND xã Đồi 61; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Và Kíu |