- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Trần Thị D với Vo Minh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Đ với anh Võ Minh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST Ngày: 08-4-2020 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hải Đường;
2. Ông Trần Hữu Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Bà Lâm Phượng Tú, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 663/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXX ngày 05 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Đ, sinh năm: 1990; địa chỉ: Tổ 13, ấp Ninh Bình, xã Bàu Năng, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; tạm trú: Ấp 4, xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Võ Minh T, sinh năm: 1984; địa chỉ: Tổ 13, ấp Ninh Bình, xã Bàu Năng, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 25 tháng 11 năm 2019, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị Đ trình bày:
Chị và anh T tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2009, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bàu Năng, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu vợ chồng anh chị sống hạnh phúc. Từ năm 2018 đến nay phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân vợ chồng anh chị thường xuyên cãi vã nhau. Từ khi chị sinh cháu thứ hai đến nay thì càng nhiều mâu thuẫn. Mỗi lần cãi nhau là anh T xúc phạm đến cha mẹ ruột của chị Đ. Thôi nôi con chung cha mẹ chị ở xa không lên được anh T cũng xúc phạm cha mẹ chị. Cách đây khoảng 09 tháng vợ chồng cãi nhau, anh T đánh chị nên chị đưa con về nhà cha mẹ chị sinh sống. Hôm tết anh T có xuống nhà chị nhưng nói chuyện được lúc rồi lại xúc phạm mẹ chị nên không thể hàn gắn được. Chị cũng đã chịu đựng và cho anh T nhiều cơ hội nhưng anh T vẫn vậy. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Võ Quế A, sinh ngày: 01-3-2010 và Võ Quốc A, sinh ngày: 04-6-2018. Ly hôn chị xin nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T được quyền thăm con, chị không cản trở. Nếu nguyện vọng con chung Võ Quế A xin được ở với anh T thì chị cũng đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh T đã được Tòa án Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trình bày:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự; Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Đề nghị giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ đối với anh T; Về con chung: Giao con chung Võ Quế A cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng; giao con chung Võ Quốc A cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Anh chị được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án phí dân sự sơ thẩm chị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Kiến nghị khác: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Đ có đơn xin giải quyết vắng mặt. Anh T đã được Tòa án Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án xét xử vắng mặt chị Đ, anh T theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Đ xác định tự nguyện sống chung với anh T từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bàu Năng, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về mâu thuẫn vợ chồng: Chị Đ, anh T sống hạnh phúc được thời gian đầu. Từ năm 2018 đến nay phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị thường xuyên cãi nhau. Cuối năm 2019, anh chị cãi nhau, anh T đã đánh chị Đ nên chị đưa con trai về mẹ ruột sống ly thân cho đến nay. Chị Đ đã cố gắng nhưng anh chị không thể hàn gắn. Tòa án mời anh Đ nhiều lần nhưng anh không lên Tòa án để hàn gắn vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng anh T, chị Đ không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ vợ chồng. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ, anh T.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Võ Quế A, sinh ngày: 01-3-2010 và Võ Quốc A, sinh ngày: 04-6-2018. Hiện nay con chung Võ Quế A đang sinh sống với anh T, con chung Võ Quốc A đang sinh sống cùng chị Đ. Ly hôn chị Đ xin được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu nguyện vọng của con chung Võ Quế A xin được ở với anh T thì chị cũng đồng ý theo nguyện vọng của cháu. Nguyện vọng của Võ Quế A là được ở với cha. Anh T không đến Tòa án để hòa giải về con chung. Hội đồng xét xử giao con chung Võ Quế A cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao con chung Võ Quốc A cho chị Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Anh chị được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nhận xét và quan điểm nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.
Về án phí: Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Đ là nguyên đơn phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Đ với anh Võ Minh T.
Chị Trần Thị Đ được ly hôn với anh Võ Minh T.
2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên là Võ Quế A, sinh ngày: 01-3-2010 và Võ Quốc A, sinh ngày: 04-6-2018.
- Giao con chung Võ Quế A cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Giao con chung Võ Quốc A cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Anh chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Anh chị được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Đ phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí sơ thẩm dân sự nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí khởi kiện chị Đ đã nộp theo biên lai thu số 0003920 ngày 03-12-2019 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Chị Đ đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyết định này có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND. tỉnh Tây Ninh; - VKSND. Huyện Dương Minh Châu; - CCTHADS. Huyện Dương Minh Châu; - UBND. xã Bàu Năng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Bích Hằng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Bích Hằng |