vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Ngô Phạm Hoàng Giang được ly hôn ông Đàm Hữu Quang.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Đàm Như Ý, sinh ngày 25/10/2013 cho bà Ngô Phạm Hoàng Giang được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Giang không yêu cầu ông Quang cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Ngô Phạm Hoàng Giang được ly hôn ông Đàm Hữu Quang.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 12/03/2020
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hưởng

2. Ông Nguyễn Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 03 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 313/2019/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Phạm Hoàng G, sinh năm 199X; Địa chỉ: Thôn X, xã D huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Bị đơn: Ông Đàm Hữu Q, sinh năm 198X; Địa chỉ: Tổ, thôn T, xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/12/2019 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Ngô Phạm Hoàng G trình bày: Chị G và anh Q tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã D, huyện Diên Khánh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 66/2013 quyển số: 01/2011 ngày 17/10/2013. Quá trình chung sống thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do anh Q nghiện ma túy nên sinh ra nhiều thói hư, tật xấu, trộm cắp tài sản và thường xuyên đánh đập chị G, hiện anh Q đang chấp hành án tại Đội 28, phân trại 2 tại Trại giam A2 - Cục 10 Bộ công an, hai người ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị G xác định không còn tình cảm với anh Q nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đàm Hữu Q

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị G và anh Q có 01 con chung tên là Đàm Như X, sinh ngày 25/10/201X. Hiện cháu đang ở cùng chị G. Nguyện vọng của cháu ..muốn ở với mẹ nên anh q…đồng ý giao cho chị G được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ý, anh Quang không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Giang không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh chị không có nợ ai và cũng không có Ai nợ lại anh chị nên chị không yêu cầu giải quyết .

Tại bản tự khai ngày 08/01/2020 và trong quá trình giải quyết, bị đơn ông Đàm Hữu Quang trình bày: Anh và chị Giang có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diên Lạc năm 2013. Quá trình chung sống giữa anh và chị Giang xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hiện anh Quang đang chấp hành án tại trại giam A2 nên tình cảm phai nhạt. Nay chị Giang xin ly hôn với anh, anh đồng ý

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Anh thống nhất với yêu cầu và lời trình bày của chị Giang. Anh đồng ý giao cháu Ý cho chị Giang nuôi dưỡng, giáo dục cháu ÝuonwgfQuang và chị Giang có 01 con chung tên là Đàm Như Ý, sinh ngày 25/10/2013. Sau khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị Giang được nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản khi ly hôn: Không có tài sản chung và nợ chung.

Về nợ chung: Anh chị không có nợ ai và cũng không có Ai nợ lại anh chị nên chị không yêu cầu giải quyết .

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Còn những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Ngô Phạm Hoàng Giang, Bị đơn ông Đàm Hữu Quang có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về yêu cầu ly hôn: Bà Ngô Phạm Hoàng Giang và ông Đàm Hữu Quang tự nguyện kết hôn năm 2013, được Uỷ ban nhân dân xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 66/2013, quyển số: 01/2011 ngày 17/10/2013; đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do ông Quang là người nghiện ma túy nên có nhiều thói hư, tật xấu, hay trộm cắp tài sản và thường xuyên đánh đập bà Giang, hiện ông Quang đang chấp hành án tại Đội 28, phân trại 2 tại Trại giam A2 - Cục 10 Bộ công an, hai người ly thân từ đó cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Giang và ông Quang lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Giang và ông Quang có 01 con chung tên là Đàm Như Ý, sinh ngày 25/10/2013. Khi ly hôn cần giao cho bà Giang được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Như Ý. Bà Giang không yêu cầu ông Quang cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.

Về chia tài sản khi ly hôn: Bà Ngô Phạm Hoàng Giang, ông Đàm Hữu Quang có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

Về nợ chung: Anh chị không có nợ ai và cũng không có Ai nợ lại anh chị nên chị không giải quyết .

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Ngô Phạm Hoàng Giang phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Ngô Phạm Hoàng Giang được ly hôn ông Đàm Hữu Quang.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Đàm Như Ý, sinh ngày 25/10/2013 cho bà Ngô Phạm Hoàng Giang được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Giang không yêu cầu ông Quang cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về chia tài sản khi ly hôn: Bà Ngô Phạm Hoàng Giang, ông Đàm Hữu Quang có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

4. Về nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không giải quyết .

5. Về án phí: Bà Ngô Phạm Hoàng Giang phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0007337 ngày 31/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh.

6. Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ