vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa anh Đặng Văn P và chị Lý Thị L là quan hệ vợ chồng.

Về án phí: Anh Đặng Văn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng ) ̀ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Văn P xin Ly hôn Lý Thị L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa anh Đặng Văn P và chị Lý Thị L là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ- ST
Ngày: 22-7-2020
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Vàng Văn Thủy

+ Bà Dương Thị Lan Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2020. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47 /2020/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 6 năm 2020 về “ Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXX- ST, ngày 07 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Anh Đặng Văn P - sinh năm:1973.

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có ý kiến đề nghị xét xử mặt.

2.Bị đơn: Chị Lý Thị L - sinh năm 1973.

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có ý kiến đề nghị xét xử mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn nhận ngày 08/6/2020 và bản tự khai khai tiếp theo nguyên đơn anh Đặng Văn P trình bày: Anh và chị Lý Thị L về chung sống với nhau từ năm 1989, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống anh P và chị L sống hòa thuận hạnh phúc được mấy năm đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra xô xát, cãi nhau, từ năm 2003 giữa anh và chị L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân, nhưng đến năm 2006 chị L quay lại xin tha thứ và anh P đã chấp nhận, anh chị sống chung với nhau đến năm 2011 thì lại thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2015 chị L đã chuyển ra ngoài sống, nguyên nhân chính là do chị L không quan tâm đến gia đình, liên tục bỏ nhà đi, một mình anh phải chăm lo cho gia đình và nuôi dạy con cái trưởng thành. Nay xét thấy cuộc sống chung giữa anh và chị L không có hạnh phúc, tình cảm không còn, để đảm bảo cuộc sống sau này của anh. Do vậy, anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận mối quan hệ giữa anh và chị Lý Thị L là vợ chồng.

Về con chung: Trong thời gian sống chung giữa anh và chị L có 02 con chung. Cháu lớn tên là Đặng Văn H - Sinh năm 1991; Cháu nhỏ tên là Đặng Thị H - Sinh năm 1995. Hiện nay hai cháu đều đã trưởng thành, nên anh Pôn không đề nghị giải quyết.

Về tài sản chung: Anh và chị L tự thỏa thuận, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết

Tại bản tự khai ngày 09/6/2020 bị đơn chị Lý Thị L trình bày: Chị hoàn toàn nhất trí với lời trình bày của anh P về thời gian sống chung và quá trình chung sống. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị và anh P là do không hợp nhau, trong cuộc sống hàng ngày giữa chị và anh P không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Trong thời gian sống chung giữa chị và anh P đã nhiều lần sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay anh P làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận mối quan hệ giữa chị và anh P là vợ chồng, chị nhất trí.

Về con chung: Trong thời gian sống chung giữa chị và anh Pôn có 02 con chung. Cháu lớn tên là Đặng Văn H - Sinh năm 1991; Cháu nhỏ tên là Đặng Thị H - Sinh năm 1995. Hiện nay hai cháu đều đã trưởng thành, nên chị L không đề nghị giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôn nay:

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa anh Đặng Văn P và chị Lý Thị L là quan hệ vợ chồng.Về con chung và tài sản không đề nghị giải quyết.

-Anh P và chị L đều vắng mặt tại phiên tòa có lý do. Anh chị vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh P khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai giải quyết không công nhận mối quan hệ giữa anh và chị Lý Thị L là vợ chồng. Chị L có hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về “ Ly hôn”.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Đặng Văn P và bị đơn chị Lý Thị L đều có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn P và chị Lý Thị L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989, khi đó anh chị chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và từ ngày 01/01/2001 là ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực thi hành, đến ngày 01/01/2003 là thời điểm nhà nước khuyến khích nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10. Nhưng anh P và chị L cũng không đi làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định.Trong quá trình chung sống giữa anh P và chị L đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể kéo dài được. Ngày 08/6/2020 anh P nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố mối quan hệ giữa anh và chị Lý Thị L không phải là vợ chồng. Xét thấy, việc anh P và chị L chung sống với nhau như vợ chồng là hoàn toàn tự nguyện, có thời gian chung sống với nhau đến nay đã được hơn 30 năm, nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm Luật hôn nhân và gia đình. Nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết, áp dụng khoản 1 Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố quan hệ giữa anh Đặng Văn P và chị Lý Thị L không phải là vợ chồng.

Về nuôi con khi ly hôn: Cả hai anh chị đều thừa nhận có 02 con chung. Hiện nay các cháu đều đã trưởng thành, nên anh P và chị L không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Đặng Văn P và chị Lý Thị L không đề nghị Toà án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đặng Văn P phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về quyền kháng cáo: Anh Đặng Văn P và chị Lý Thị L được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa anh Đặng Văn P và chị Lý Thị L là quan hệ vợ chồng.

2. Về án phí: Anh Đặng Văn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng )

̀ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi

́ dân sự sơ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng theo biên lai số 0002501, ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Hà. Anh P đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ