- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình (GIAU-NGUYEN)"
- Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 2, Điều 148; Điều 299 của Bộ lu t Tố tụng dân sự;
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 05/2020/HNGĐ-PT Ngày: 12/02/2020 V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình – ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đạt
Ông Đinh Chí Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Tón- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2020 tại Trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2019/TLPT-HNGD ngày 11 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2019/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Hồng Ngự bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 52/2019/QĐ-PT ngày 17 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- N đơn: Chị Huỳnh Thị G, sinh năm 1996; Địa chỉ cư trú: khóm A, thị trấn A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Hồ Văn N, sinh năm 1994; Địa chỉ cư trú: ấp A, xã A 2, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. (đã chết 25/11/2019)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú: ấp A, xã A 2, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
(N đơn có mặt, bị đơn, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Huỳnh Thị G trình bày: về hôn nhân, chị và anh N cư i nhau vào ngày 30/4/2016, có đăng ký kết hôn tại y ban nhân dân xã Thường Th i Tiền, huyện Hồng Ngự. Hôn nhân do quen biết trư c. Sau khi cư i chị và anh N sống c ng gia đình anh N, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 9 năm 2018 thì phát sinh mâu thu n, sống không còn hạnh phúc nữa. N nhân do anh N ghen tuông, uống rượu và nhiều lần đánh chị, việc anh N đánh chị thì chị không có báo chính quyền địa phương. Ngoài ra, vợ chồng không còn mâu thu n nào khác. Chị và anh N không còn sống chung t năm tháng 9/2018 cho đến nay. Anh N và cha m chồng nhiều lần đến nhà cha m ruột chị để hàn gắn tình cảm và kêu chị về chung sống v i anh N nhưng chị thấy vợ chồng sống không hạnh phúc nên chị không về đoàn tụ c ng anh N, khoảng tháng 5/2019 thì anh N có nộp đơn yêu cầu được ly hôn v i chị tại Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự nhưng Tòa án mời anh N không về giải quyết, vì anh N không đồng ý cấp dư ng nuôi con nên vụ án đã đình chỉ. Nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị yêu cầu được ly hôn v i anh Hồ Văn N.
Bị đơn anh H Văn N, trình bày: Anh và chị G cư i nhau vào ngày 30/4/2016 dương lịch, có đăng ký kết hôn tại y ban nhân dân thị trấn Thường Th i Tiền, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Hôn nhân do quen biết trư c, sau khi cư i anh và chị G sống c ng gia đình anh, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thu n. N nhân do chị Giàu d ng những lời lẽ xúc phạm anh và cha m anh nên anh m i đánh chị Giàu. Ngoài ra, chị G còn thường xuyên đòi về nhà cha m ruột ở, trong khi gia đình anh chỉ có một anh là con và gia đình đang khó khăn về kinh tế, cần người trông coi nhà để anh và cha m làm ăn nên anh và chị G thường xuyên xảy ra xích mích. Anh và chị G không còn sống chung t tháng 9/2018 cho đến nay, có gặp nhau để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay chị G yêu cầu ly hôn anh thống nhất ly hôn.
V việc nuôi con:
Chị Huỳnh Thị G, anh Hồ Văn N thống nhất trình bày: Anh chị chung sống v i nhau có 01 con chung, là con gái tên Hồ Thị Tường Vy, sinh ngày 10/11/2016. Con chung Tường Vy sống c ng chị G t khi chị Giàu về nhà cha m ruột ở t tháng 9/2018 cho đến nay, khi con chung Tường Vy chung sống c ng chị G thì anh N không có đến thăm nom, c ng không có gửi tiền cho chị G để nuôi dư ng con chung. Chị G hiện buôn bán tại trường tiểu học Thường Th i Tiền 2, thu nh p trung bình m i tháng khoảng 1.500.000đ nhưng chị G chung sống c ng cha m ruột nên cơm nư c, chi tiêu sinh hoạt cá nhân thì cha m ruột chị G phụ tiếp. Chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dư ng con chung Tường Vy và yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con theo quy định của pháp lu t. Nếu chị G không yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con thì anh N thống nhất giao con chung cho chị G tiếp tục nuôi dư ng. Còn chị Giàu v n yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con thì anh N yêu cầu được nuôi dư ng con chung và không yêu cầu chị Giàu cấp dư ng nuôi con. Anh N hiện đang đi làm Công ty giày tại ong An, lương m i tháng được 5.000.000đ, tr chi phí sinh hoạt cá nhân còn dư lại 500.000đ - 600.000đ. Tiền đi làm dư thì anh gửi về cho cha m ruột để phụ giúp gia đình, vì gia đình anh thiếu nợ, cần nhiều th phải lo nên không thể cấp dư ng cho con.
Về chia tài sản chung: Chị Huỳnh Thị G và anh Hồ Văn N thống nhất trình bày: Vào tháng 9/2016 chị G có cho m chồng là bà Nguyễn Thị Chi mượn 05 chỉ vàng cư i vàng 24kra, vàng 9 tu i 8. Nay chị G và anh N ly hôn nên chị G yêu cầu bà Chi trả lại 05 chỉ vàng 24kra để chị G và anh N chia m i người 2 chỉ 5 phân vàng. Anh N thống nhất chia đôi 05 chỉ vàng 24kra mà bà Chi đã mượn. Ngoài ra, vợ chồng không còn tài sản nào khác.
Về nợ chung: Chị G và anh N thống nhất trình: Anh chị chung sống v i nhau không có thiếu nợ ai nên nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Chi, trình bày: Bà là m ruột anh Hồ Văn N. Không nh ngày tháng năm, chỉ nh có mượn vợ chồng anh N 05 chỉ vàng 24kra. Nay chị G và anh N ly hôn bà đồng ý trả lại 05 chỉ vàng 24kra, vàng 9 tu i 8 để chị G và anh N chia m i người 2 chỉ 5 phân vàng. Nhưng bà chỉ trả vàng cho chị G, anh N v i điều kiện chị G và anh N có quyết định ly hôn ngay trong ngày và chị G không yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con. Nếu chị G không có khả năng nuôi con thì giao cháu Tường Vy lại cho anh N và bà nuôi dư ng và không yêu cầu chị G cấp dư ng nuôi con.
Chị Huỳnh Thị G, anh Hồ Văn N, bà Nguyễn Thị Chi thống nhất giá vàng 24kra vàng 9 tu i 8 tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 4.030.000đ/chỉ.
* Tại quyết định bản án sơ thẩm số 39/2019/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Hồng Ngự đã tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nh n sự th a thu n thu n tình ly hôn giữa chị Huỳnh Thị G và anh Hồ Văn N.
2. Về việc nuôi con:
2.1 Chấp nh n yêu cầu được nuôi dư ng con chung của chị Huỳnh Thị Giàu. Giao con chung Hồ Thị Tường Vy, sinh ngày 10/11/2016 cho chị G được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dư ng, giáo dục.
2.2 Chấp nh n yêu cầu cấp dư ng nuôi con của chị Huỳnh Thị Giàu. Buộc anh Hồ Văn N hàng tháng cấp dư ng nuôi con chung Hồ Thị Tường V, sinh ngày 10/11/2016, m c cấp dư ng m i tháng bằng nửa tháng lương cơ sở do Nhà nư c quy định tại thời điểm thi hành án, thời gian cấp dư ng tính t tháng 10 năm 2019 cho đến khi con chung Hồ Thị Tường V đủ 18 tu i.
2.4 Sau khi ly hôn, anh Hồ Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dư ng, giáo dục con thì chị G có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh N.
3. Về chia tài sản chung: Chấp nh n yêu cầu của chị Huỳnh Thị G. Buộc bà Nguyễn Thị C trả cho chị Huỳnh Thị G và anh Hồ Văn N m i người 02 (Hai) chỉ 05 (Năm) phân vàng 24kra (vàng 9 tu i 8).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1 Chị Huỳnh Thị G chịu 803.500đ được khấu tr vào tiền tạm ng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0000972 ngày 09/9/2019 và 500.000đ theo biên lai thu số 0001010 ngày 26/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, chị G còn phải nộp tiếp 3.500đ (Ba nghìn năm trăm đồng).
3.2 Anh Hồ Văn N chịu 803.500đ (Tám trăm l ba nghìn năm trăm đồng).
3.3 Bà Nguyễn Thị C chịu 1.007.500đ (Một triệu không trăm l bảy nghìn năm trăm đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/10/2019, anh Hồ Văn N kháng cáo không đồng ý v i bản án sơ thẩm, không đồng ý một phần bản án sơ thẩm, không đồng ý chị Huỳnh Thị Giàu được nuôi con nên anh N không đồng ý cấp dư ng nuôi con.
Ngày 25/11/2019, anh N chết do tai nạn lao động.
Ngày 16/01/2020, chị G có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con chung và không yêu cầu bất kỳ ai cấp dư ng nuôi con chung.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu về tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng quy định của pháp lu t tố tụng dân sự; về nội dung, sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự. Hủy và đình chỉ một phần bản án sơ thẩm về việc cấp dư ng nuôi con chung.
Căn c vào các tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu ch ng c và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của anh Hồ Văn N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Anh N, chị G chung sống v i nhau có 01 con chung tên Hồ Thị Tường V, sinh ngày 10/11/2016. Con chung Tường Vy sống c ng chị G t khi chị Giàu về nhà cha m ruột ở t tháng 9/2018 cho đến nay, khi con chung sống c ng chị G thì anh N không có đến thăm nom, c ng không có gửi tiền cho chị để nuôi dư ng con. Chị G hiện buôn bán tại trường tiểu học Thường Th i Tiền 2, thu nh p trung bình m i tháng khoảng 1.500.000đ. Do đó chị Giàu yêu cầu được tiếp tục nuôi dư ng con chung và yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con theo quy định của pháp lu t. Nhưng anh N không đồng ý yêu cầu của chị Giàu, đồng thời, anh N ra điều kiện: nếu chị G không yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con thì anh N thống nhất giao con chung cho chị G tiếp tục nuôi dư ng. Còn chị Giàu v n yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con thì anh N yêu cầu được nuôi dư ng con chung và không yêu cầu chị Giàu cấp dư ng nuôi con. Do đó, Tòa án sơ thẩm chấp nh n yêu cầu của chị Huỳnh Thị Giàu về con chung và cấp dư ng là có cơ sở.
Ngày 25/11/2019, anh N chết do tai nạn lao động.
Ngày 16/01/2020 và tại phiên tòa phúc thẩm, chị Giàu có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con chung và không yêu cầu bất kỳ ai cấp dư ng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu anh N cấp dư ng nuôi con chung và không yêu cầu bất kỳ ai cấp dư ng nuôi con chung là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nh n.
Do đó, Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, hủy và đình chỉ một phần bản án sơ thẩm về việc về cấp dư ng nuôi con chung.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự. Hủy và đình chỉ một phần bản án dân sự sơ thẩm về việc cấp dư ng nuôi con chung là có căn c , nên Hội đồng xét xử chấp nh n.
T những nh n định trên, Hội đồng xét xử, sửa một phần bản án sơ thẩm, Hủy và đình chỉ một phần bản án dân sự sơ thẩm số 39/2019/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Hồng Ngự về việc cấp dư ng nuôi con chung.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể t ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Về án phí phúc thẩm: anh Hồ Văn N phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào khoản 2, Điều 148; Điều 299 của Bộ lu t Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 59, Điều 81, 82 và Điều 83 của u t hôn nhân và gia đình; Điều 463, Điều 466 của Bộ lu t dân sự năm 2015.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án,
Sửa bản án sơ thẩm số số 39/2019/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Hồng Ngự.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nh n sự th a thu n thu n tình ly hôn giữa chị Huỳnh Thị G và anh Hồ Văn N.
Hủy và đình chỉ một phần bản án sơ thẩm số 39/2019/HNGĐ – ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự về việc cấp dư ng nuôi con chung.
- Về con chung: Chấp nh n yêu cầu được nuôi dư ng con chung của chị Huỳnh Thị G.
Chị Huỳnh Thị Ngọc G được tiếp tục nuôi dư ng con chung tên Hồ Thị Tường Vy, sinh ngày 10/11/2016.
3. Về chia tài sản chung: Chấp nh n yêu cầu của chị Huỳnh Thị G. Buộc bà Nguyễn Thị C trả cho chị Huỳnh Thị G và anh Hồ Văn N m i người 02 (Hai) chỉ 05 (Năm) phân vàng 24kra (vàng 9 tu i 8).
Kể t ngày bản án có hiệu lực pháp lu t hoặc kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ lu t dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1 Chị Huỳnh Thị G chịu 803.500đ được khấu tr vào tiền tạm ng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0000972 ngày 09/9/2019 và 500.000đ theo biên lai thu số 0001010 ngày 26/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, chị G còn phải nộp tiếp 3.500đ (Ba nghìn năm trăm đồng).
3.2 Anh Hồ Văn N phải chịu 803.500đ (Tám trăm l ba nghìn năm trăm đồng).
3.3 Bà Nguyễn Thị Chi phải chịu 1.007.500đ (Một triệu không trăm l bảy nghìn năm trăm đồng).
- Về án phí phúc thẩm: anh Hồ Văn N không phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm 300.000 đồng, nhưng được khấu tr vào số tiền tạm ng án phí 300.000 đồng, anh N đã nộp theo biên lai số 0001043 ngày 05/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 u t Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 u t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 u t Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - TAND huyện Hồng Ngự; - Chi cụcTHADS huyện Hồng Ngự; - Đương sự; - ưu: VT, HSVA, TDS. | Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy |