| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/DS-PT Ngày: 30-10-2020 V/v: “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp về quyền sử dụng đất; tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lê Tự
Các Thẩm phán:
Ông ê h c Thanh
Ông Nguy n T n Tr ng
- Thư ký phiên tòa: Bà V n Th M Thảo, Th ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Tr n Vi t Tu n , Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 n m 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân c p cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 226/2020/TLPT-DS ngày 17 tháng 7 n m 2020 về việc: “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp về quyền sử dụng đất; tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2020/DS-ST ngày 26 tháng 5 n m 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi b kháng cáo.
Giữa các đ ơng sự:
* Nguyên đơn: Cụ D ơng Th N - sinh n m 1928.
Đ a chỉ: Khu dân c số 6, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Ngọc A, sinh n m 1975, đ a chỉ: tỉnh Quảng Ngãi (v n bản ủy quyền ngày 12/4/2019).
* Bị đơn: Ông Lê B - sinh n m 1950 và bà Huỳnh Th N - sinh n m 1950.
Đ a chỉ: Khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông ê V n T (sinh n m 1980, đ a chỉ c trú: Khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi) (v n bản ủy quyền ngày 20/5/2019).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Xuân N, uật s Công ty uật Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên A, thuộc Đoàn luật s thành phố Đà Nẵng; đ a chỉ liên hệ: S thành phố Đà Nẵng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
1. Bà ê Th T - sinh n m 1958.
2. Ông Lê T - sinh n m 1964.
3. Bà ê Th H - sinh n m 1968.
4. Ông Lê V n C - sinh n m 1972.
5. Ông Lê L - sinh n m 1972.
6. Ông Lê M - sinh n m 1975.
Cùng đ a chỉ c trú: Khu dân c số 6, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
7. Bà ê Th M1 ( ê Th H) - sinh n m 1965.
8. Bà ê Th T - sinh n m 1967.
Cùng đ a chỉ c trú: Khu dân c số 5, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo ủy quyền của 08 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc trên: Ông Huỳnh Ngọc A, sinh n m 1975, đ a chỉ: tỉnh Quảng Ngãi, (v n bản ủy quyền ngày 12/4/2019).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Quảng Ngãi. Đ a chỉ trụ sở: Huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng T n T - hó Chủ t ch Ủy ban nhân dân huyện L và ông hạm V n Thọ - Tr ởng hòng Tài nguyên và Môi tr ng huyện L, (các v n bản ủy quyền số 428/QĐ-ngày 12/4/2019 và số 1006/QĐ-UBND ngày 21/4/2020).
2. Ông ê V n T - sinh n m 1980.
3. Bà ê Th T - sinh n m 1974.
Cùng đ a chỉ: Khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
4. Ông ê V n T - sinh n m 1976.
Đ a chỉ: Khu dân c số 4, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Tây A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
5. Bà ê Th P - sinh n m 1982.
Đ a chỉ: huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
6. Bà Nguy n Th L.
7. Cháu Lê Thành P - sinh n m 2007.
8. Cháu Lê Thành T - sinh n m 2015.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Lê Thành P, cháu Lê Thành T: Ông ê V n T, bà Nguy n Th L là cha mẹ các cháu P, T. Cùng đ a chỉ: Khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn - cụ D ơng Th N và ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu c u độc lập - các ông, bà ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn (ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Huỳnh Ngọc A) trình bày:
N tr c đây, vào ngày 30/11/1974 vợ chồng cụ D ơng Th N, cụ ê A có mua đoạn mãi một thửa đ t v n của bà D ơng Th S, bà Đinh Th G và ông D ơng T (cháu tr ởng) khoảnh đ t tại S v i diện tích 01 sào 02 th c r ỡi, có gi i cận: hía Đ giáp đ t ông Tr ơng C, phía Tây giáp đ t ông D ơng T, phía Nam giáp đ t ông Tr n V, phía Bắc giáp đ t bà P. Các bên có lập V n kh bán đoạn mãi khoảnh v n trên, vợ chồng cụ N đ ợc trọn quyền sử dụng và canh tác. Đ n ngày 08/8/1976, vợ chồng cụ N ti p tục mua của ông Tr ơng C và bà D ơng Th C khoảnh đ t kề bên cũng v i diện tích 01 sào 02 th c r ỡi. Nh vậy, tổng diện tích hai l n mua là khoảng 1.500 m2.
Vợ chồng cụ N sinh đ ợc 10 ng i con, 01 ng i ch t khi còn nhỏ, hiện còn sống 9 ng i gồm: ê B, ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, Lê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M. Do đông con, nên khi con trai l n là ông B có vợ con, việc n ở trong gia đình b t tiện nên vợ chồng cụ N xây nhà cho vợ chồng ông B, bà Huỳnh Th N ở và canh tác tại khoảnh đ t trên vào n m 1975, đ n n m 1990 ông B làm lại nhà ở nh hiện nay; vợ chồng cụ N cùng v i các con còn lại sống trên thửa đ t số 402, t bản đồ số 16 tại khu dân c số 06, thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi do Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 29/10/2010, đ n nay các con cụ N đã lập gia đình và ra ở riêng, bản thân cụ N hiện đang sống v i con trai út là ông ê M. Quá trình sử dụng đ t, ông B tự đ ng ký kê khai và đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào n m 1999 thửa đ t số 1068, t bản đồ số 02, diện tích 1.035 m2 và đ ợc c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào n m 2010, thửa đ t bi n động thành thửa số 194, t bản đồ số 26, diện tích 1.502,8 m2 (trong đó đ t ở 150 m2, đ t trồng cây hàng n m khác 1.352,8 m2) tại khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi, nh ng vợ chồng cụ N hoàn toàn không bi t. Hiện vợ chồng ông B còn làm một số chòi bằng gỗ, bê tông và tôn để kinh doanh quán cà phê.
N m 2003, chồng cụ N ch t, không để lại di chúc. Cha mẹ của chồng cụ N cũng đã ch t tr c đó từ lâu. Cụ N đã già, tuổi cao và để thực hiện ý nguyện của chồng cụ N lúc còn sống, ngày 06/6/2018 (Âm l ch) cụ N có nói v i ông B về việc trả lại đ t cho cụ N để cắt đ t phân chia đều cho các con, vì đây là mảnh đ t vợ chồng cụ N dành tiền, vay m ợn, kể cả công sức của các con trong gia đình m i mua đ ợc diện tích đ t nêu trên, nh ng vợ chồng ông B không ch u trả mà muốn chi m đoạt h t ph n diện tích đ t trên và còn xúc phạm cụ N đủ điều. Qua cử chỉ và hành động b t hi u của vợ chồng ông B, nên buộc lòng cụ N phải làm đơn gửi đ n Ủy ban nhân dân xã A để hòa giải nh ng không thành.
Nay cụ N yêu c u Tòa án xem xét, giải quy t:
- Yêu c u vợ chồng ông B, bà N trả cho cụ N 1/2 diện tích đ t là tài sản chung của cụ N v i cụ An thuộc thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, diện tích 1.502,8 m2 tại khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L sau khi trừ đi diện tích đ t có nhà của vợ chồng ông B làm nhà vào n m 1990, khoảng 200 m2 (trong đó diện tích nhà 150 m2 và ph n sân nhà); còn lại là 1.302,8 m2 (l y tròn số 1.300 m2). Nh vậy, ½ diện tích đ t là tài sản của cụ N trong khối tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ A là 650 m2.
- Chia di sản thừa k mà cụ A để lại theo pháp luật cho cụ N và các con cụ A đối v i thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, diện tích 1.502,8 m2 tại khu dân c thôn Đ A, huyện L, là 650 m2 : 10 = 65 m2, nh vậy mỗi ng i con (gồm ê B, ê Th T, Lê T, ê Th H, ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L và Lê M) đ ợc nhận 65 m2.
Tổng ph n đ t mà cụ N đ ợc nhận là 650 m2 + 65 m2 = 715 m2.
- Cụ N không tranh ch p đối v i tài sản gắn liền trên đ t. Tr ng hợp trên ph n đ t giao cho cụ N có vật ki n trúc, cây lâu n m của vợ chồng ông B, thì cụ N yêu c u vợ chồng ông B tự tháo dỡ, di d i để hoàn trả đ t cho cụ N theo quy đ nh của pháp luật.
- Hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t có số phát hành BD 701608, số vào số c p Gi y chứng nhận CH00420 do Ủy ban nhân dân huyện L c p ngày 14/10/2010 cho ông Lê B, bà Huỳnh Th N đối v i thửa d t số 194, t bản đồ số 26, diện tích 1.502,8 m2, tại khu dân c thôn Đ A, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 04/9/2019, cụ N có đơn yêu c u sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện nh sau:
- Sau khi trừ đi ph n diện tích 200 m2 có nhà và sân mà vợ chồng ông B đã xây vào n m 1990, thì diện tích thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A còn lại là 1.302,8 m2 (l y tròn số 1.300 m2).
- Yêu c u xác đ nh 1/2 của ph n diện tích 1.300 m2 thuộc thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A t ơng ứng diện tích: 650 m2 là ph n tài sản chung của cụ N trong khối tài sản chung v i cụ A. Buộc ông B và vợ là bà N phải trả lại cho cụ N diện tích đ t 650 m2 thuộc một ph n thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A.
- Yêu c u xác đ nh 1/2 của ph n diện tích 1.300 m2 thuộc thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A t ơng ứng diện tích: 650 m2 là ph n tài sản của chồng cụ N, là cụ A trong khối tài sản chung v i cụ N.
- Yêu c u chia thừa k theo pháp luật đối v i diện tích đ t 650 m2 thuộc một ph n thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 khu dân c thôn Đ A là di sản của chồng cụ N (cụ A) cho cụ N và các đồng thừa là: ê B, ê Th T, Lê T, ê Th H, ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L và Lê M. Mỗi kỷ ph n t ơng ứng diện tích: 65 m2. Cụ N yêu c u nhận ph n di sản đ ợc chia bằng hiện vật.
Tổng cộng cụ N đ ợc nhận 715 m2.
Cụ N không tranh ch p đối v i tài sản trên đ t. Tr ng hợp trên ph n đ t giao cho cụ N có vật ki n trúc, cây lâu n m của vợ chồng ông B, thì cụ N yêu c u vợ chồng ông B tự tháo dỡ, di d i để hoàn trả đ t cho cụ N theo quy đ nh của pháp luật.
- Hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số phát hành BD 701608, số vào số CH00420 do Ủy ban nhân dân huyện L c p ngày 14/10/2010 cho ông ê B, bà Huỳnh Th N tại thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 khu dân c thôn Đ A, diện tích 1.502,8 m2.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ng i đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu c u khởi kiện theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 04/9/2019, nh ng đề ngh Hội đồng xét xử điều chỉnh lại số liệu theo k t quả đo đạc thực t của thửa đ t số 194 là 1.496,6 m2, theo đó cụ N yêu c u ông B, bà N trả lại cho cụ 648,3 m2 là diện tích tài sản của cụ N nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng; yêu c u chia thừa k di sản mà cụ Đ để lại là 648,3 m2 cho cụ N và 09 ng i con, mỗi kỷ ph n là 64,83 m2; tổng cộng cụ N đ ợc nhận 713,13 m2.
Tại đơn trình bày ngày 21/3/2019, đơn trình bày ngày 06/5/2019, đơn trình bày ngày 13/5/2019, đơn trình bày ngày 21/5/2019, đơn ngày 15/7/2019, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, bị đơn (ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Lê Văn T) trình bày:
Thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, diện tích 1.502,8 m2 tại khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi là vợ chồng ông ê B, bà Huỳnh Th N mua của bà D ơng Th S vào n m 1974. N m 1976, vợ chồng ông B, bà N ra làm nhà trên thửa đ t, vì tr c đó sống chung v i cha mẹ, gia đình đông anh em, hơn nữa vợ chồng ông B đã mua đ ợc thửa đ t của bà S n m 1974. Từ n m 1976 cho đ n nay, vợ chồng B quản lý, sử dụng và làm nghĩa vụ thu cho Nhà n c nên đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số phát hành 766038 c p ngày 27/7/1999 cho ông ê B, bà Huỳnh Th N đứng tên chủ sử dụng đ t. Đ n ngày 14/10/2010 đ ợc Nhà n c c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cũng do vợ chồng ông B đứng tên chủ sử dụng đ t và vợ chồng ông B quản lý sử dụng từ đó đ n nay không ai tranh ch p.
Không bi t lý do gì mà cụ D ơng Th N, 92 tuổi già y u, lúc nh lúc quên lại khởi kiện vợ chồng ông B yêu c u Tòa giải quy t đòi lại thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A đã đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L xác lập quyền sử dụng đ t và c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, vợ chồng ông B đã sử dụng 45 n m, không ai tranh ch p.
Vợ chồng ông B đề ngh Tòa án kiểm tra lại cụ D ơng Th N có mua đ t của ai vào th i điểm đó hay không? Có đ ợc chính quyền ch độ cũ xác nhận vào Hợp đồng mua bán thửa đ t số 194 nêu trên hay không. Tại Gi y bán đoạn mãi ngày 30/11/1974 giữa bà S, ông G, ông T có nêu thửa đ t bán cho cụ ê A và cụ D ơng Th N phía Tây giáp đ t nhà ông D ơng T là hoàn toàn không đúng, vì tr c n m 1975, phía Tây là giáp đ t ông D ơng Mèo, nh ng ông D ơng Mèo không có con nên n m 1978 ông D ơng T mơi về ở. Từ n m 1974, đ ng đi vào thửa đ t số 194 do đ ng nhỏ, chật hẹp đi lại khó kh n nên n m 1975 vợ chồng ông B đã mua lại đoạn đ ng đi vào thửa đ t số 194 là của ông D ơng Mèo, còn ông D ơng T không liên quan đ n thửa đ t này. Nh ng Gi y bán đ t ngày 30/11/1974 của bà S, ông G, ông T cho cụ ê A và cụ D ơng Th N lại ghi phía Tây giáp đ t ông T là hoàn toàn b a đặt, vô c n cứ và nêu phía Nam giáp đ t tranh ch p ghi gi i cận là ông Tr ơng Quyệt là không đúng. ý do nguồn gốc đ t là của ông Tr ơng Quỷ cha ông Tr ơng Quyệt, còn ông Quyệt đi lính cho ch độ cũ đã ch t vào n m 1971; còn n m 1974 ông Tr ơng T không có ở đ a ph ơng thì làm sao ông T vi t Gi y bán đ t cho cụ A và cụ N vào ngày 30/11/1974.
Qua những v n đề nêu trên, chứng tỏ gi y t mua bán đ t của bà D ơng Th S, bà Đinh Th giáp, ông D ơng T v i cụ ê A, cụ D ơng Th N là không có c n cứ, không có cơ sở. Việc lập gi y mua bán này là không hợp lý, không hợp pháp vì gi y này không có chính quyền th i đó xác nhận. Do đó, cụ N không có c n cứ yêu c u Tòa án giải quy t hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của vợ chồng ông B. Hơn nữa, thửa đ t 194 nêu trên là vợ chồng ông B đã mua hợp pháp, đ ợc Nhà n c xem xét c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho vợ chồng ông B n m 1999 và c p đổi lại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào n m 2010.
Vợ chồng ông B xác đ nh việc vợ chồng ông, bà mua thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 khu dân c thôn Đ A của bà D ơng Th S là hợp pháp, lúc mua có hợp đồng, có xác nhận của chính quyền ch độ cũ. Nay gi y này b th t lạc nh ng đ ợc Nhà n c xem xét và đã c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho vợ chồng ông B. Còn cụ N không có mua thửa đ t số 194 nêu trên của bà D ơng Th S, Đinh Th G, ông D ơng T. Do cụ N tuổi cao, sức y u không làm chủ đ ợc hành vi dân sự vì lúc nh lúc quên, nên b các con xúi giục b a ra để tranh ch p đ t v i vợ chồng ông B là r t vô lý, không có c n cứ và không có cơ sở.
Việc cụ N yêu c u Tòa án giải quy t chia di sản thừa k của cụ A để lại theo pháp luật trên thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 khu dân c thôn Đ A cho cụ N và các con chung của cụ A h ởng di sản thừa k là hoàn toàn không có cơ sở. Vì thửa đ t số 194 nêu trên là đ t vợ chồng ông B mua hợp pháp, đ ợc Nhà n c đã xác nhận và đã c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, thì cụ N làm gì có đ t để cụ N yêu c u Tòa án chia di sản thừa k cho cụ và các con của cụ A và cụ N.
Do đó, vợ chồng ông B không đồng ý toàn bộ đơn khởi kiện của cụ N. Vợ chồng ông B yêu c u Tòa án bác đơn khởi kiện của cụ N, vì cụ N yêu c u tranh ch p đòi lại tài sản là quyền sử dụng đ t, tranh ch p về thừa k tài sản là trái v i pháp luật Nhà n c hiện hành đã quy đ nh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập các ông, bà Lê Thị T, Lê T, Lê Thị M1 (Lê Thị H), Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Văn C, Lê L, Lê M (ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Huỳnh Ngọc A) trình bày:
Vào ngày 30/11/1974, cha mẹ các ông, bà ê Th T, Lê T, ê Th M1 (Lê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M là cụ ê A, D ơng Th N có mua đoạn mãi của bà D ơng Th S, bà Đinh Th G và cháu tr ởng D ơng T một khoảnh đ t tại S v i diện tích 01 sào hai th c r ỡi, có gi i cận: hía Đ giáp đ t ông Tr ơng C; phía Tây giáp đ t ông D ơng T; phía Nam giáp đ t ông Tr n V; phía Bắc giáp đ t bà P. Hai bên có lập V n kh bán đoạn mãi khoảnh v n trên, cha mẹ các ông, bà đ ợc trọn quyền sử dụng và canh tác. Đ n ngày 08/8/1976, cha mẹ các ông, bà ti p tục mua của ông Tr ơng C và bà D ơng Th C khoảnh đ t kề bên cũng v i diện tích 01 sào hai th c r ỡi, có gi i cận: hía Đ giáp đ t bà P, phía Tây giáp đ t bà Bùi Th Chùa; phía Nam giáp đ t ông Tr ơng Quyệt; phía Bắc giáp đ t ê A (đ t của cha mẹ các ông, bà). Nh vậy, tổng diện tích đ t của cha mẹ các ông, bà mua hai l n là 02 sào 05 th c (theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t là 1.502,8 m2).
Cha mẹ các ông, bà sinh đ ợc 10 ng i con, đã ch t 01 ng i khi còn nhỏ, còn sống 9 ng i gồm ê B, ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, Lê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M. Do đông con nên khi anh trai các ông, bà là ê B lập gia đình, cha mẹ có dựng 01 c n nhà nhỏ để vợ chồng ông B ở riêng. Đ n n m 1990, ông B làm lại nhà ở nh hiện nay. Quá trình sử dụng đ t, ông B tự đ ng ký kê khai và đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào n m 1999 thuộc thửa đ t số 1068, t bản đồ số 02, diện tích 1.035 m2; đ n n m 2010, đ ợc c p đổi thành thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, diện tích 1.502,8 m2. Việc ông B tự ý kê khai và đ ợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, cha mẹ các ông, bà hoàn toàn không bi t. N m 2003, cha của các ông, bà qua đ i, không để lại di chúc.
Thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A) là do cha mẹ các ông, bà tạo lập. Cha mẹ các ông, bà chỉ cho ông B ở trên một ph n diện tích đ t khoảng 200 m2 và ch a có b t kỳ v n bản nào cho ông B thửa đ t trên; tr c khi qua đ i, cha của các ông, bà cũng không để lại di chúc. Việc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ông B mà ch a có sự đồng ý của cha mẹ các ông, bà là trái pháp luật, xâm phạm đ n quyền và lợi ích hợp pháp của mẹ các ông, bà và các đồng thừa k khác.
Các ông, bà yêu c u Tòa án giải quy t: Chia thừa k theo pháp luật đối v i diện tích đ t theo đo đạc thực t là 648,3 m2, thuộc một ph n thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A là di sản của cha các ông, bà (cụ ê A) cho các đồng thừa k gồm: Cụ D ơng Th N và các ông, bà Lê B, ê Th T, Lê T, Lê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M; mỗi kỷ ph n t ơng ứng v i diện tích 64,83 m2. Các ông, bà ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M, mỗi ng i đều yêu c u nhận di sản đ ợc chia bằng hiện vật và đều không có tranh ch p đối v i tài sản trên đ t.
Tại Bản tự khai ngày 19/4/2019, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T (ông Thành đồng thời còn là cha của các cháu Lê Thành P, Lê Thành T) trình bày:
Qua nghe và tìm hiểu, ông ê V n T đ ợc bi t vào n m 1974, cha mẹ ông Thành là ông Lê B, bà Huỳnh Th N có mua mảnh đ t một gốc ba thuộc xóm Trung H của bà D ơng Th S. Lúc này, cha mẹ ông Thành sống chung v i ông bà nội là cụ ê A, D ơng Th N. Do gia đình ông bà nội đông con nên cha mẹ ông Thành có mua mảnh đ t của bà D ơng Th S để ở. Đồng th i cha mẹ ông Thành cũng tách ra ở riêng tại thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, diện tích 1.502 m2, xã Bình Y n, huyện Bình Sơn, tỉnh Nghĩa Bình (nay là khu dân c thôn Đ A, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi), từ n m 1976 cho đ n nay không ai tranh ch p, đ ợc Nhà n c c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số phát hành 766038 đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p ngày 27/7/1999, sau đó Nhà n c c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 14/10/2010 cho cha mẹ ông Thành là ê B, Huỳnh Th N.
Việc nguyên đơn là cụ D ơng Th N, 92 tuổi, tuổi cao sức y u, lúc nh lúc quên, lại nghe theo l i các cô, chú để dựng khống gi y t mua đ t nhằm tranh ch p mảnh đ t của cha mẹ ông Thành mua từ n m 1974, đ n ở n m 1976 cho đ n nay là hoàn toàn vô lý. Ông Thành trình bày nội dung nêu trên v i vai trò là ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để Tòa án giải quy t theo luật đ nh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T, bà Lê Thị T, bà Lê Thị P trình bày:
N vào n m 1999, cha mẹ của ông ê V n T, bà ê Th T, bà ê Th P, là ông Lê B, bà Huỳnh Th N đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t có số phát hành 766038, số yào số c p Gi y chứng nhận 1184QSDĐ/QĐ-UB ngày 27/7/1999 cho ông Lê B thửa đ t số 1068, t bản đồ số 2, xã ý Hải (nay là thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi. Th i điểm đó, các ông bà Thành, T, P còn nhỏ, đ n nay đã có lập gia đình và sinh sống riêng. Các ông, bà khẳng đ nh Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nêu trên cho cha mẹ các ông, bà là đúng theo quy đ nh của pháp luật. Còn cụ D ơng Th N - 92 tuổi già y u, lúc nh lúc quên không còn minh mẫn, lại nghe theo l i xúi giục của các cô chú khởi kiện để tranh ch p quyền sử dụng đ t là trái pháp luật. Bởi vì vào n m 1974, cha mẹ các ông, bà có mua mảnh đ t một góc ba thuộc xóm Trung Hòa của bà D ơng Th S. Khi đó cha mẹ các ông, bà đang sinh sống cùng v i gia đình ông bà nội là cụ ê A và cụ D ơng Th N. Do gia đình ông, bà nội đông con, nên cha mẹ các ông, bà mua mảnh đ t của bà D ơng Th S ở riêng, nay là thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A. Từ n m 1976 cho đ n nay không có ai tranh ch p, nên cha mẹ các ông, bà đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào ngày 27/7/1999, sau đó đ ợc Nhà n c c p đối Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 14/10/2010. Việc cụ D ơng Th N - 92 tuổi không còn minh mẫn, nghe theo l i xúi giục của cô chú để dựng gi y t mua đ t nhằm tranh ch p thửa đ t của cha mẹ các ông, bà là hoàn toàn vô lý và trái pháp luật. Các ông, bà Thành, T, P trình bày nội dung nêu trên để Tòa án giải quy t theo luật đ nh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L (bà L đồng thời còn là mẹ của các cháu Lê Thành P, Lê Thành T) trình bày:
Vào n m 2006, bà Nguy n Th L có chồng là ê V n T. Từ đó đ n nay, vợ chồng bà L ở cùng v i cha mẹ chồng là ông ê B, bà Huỳnh Th N trên thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi. Nay bà L khẳng đ nh là Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho cha mẹ chồng bà L là đúng theo pháp luật. Còn cụ D ơng Th N - 92 tuổi già y u, lúc nh lúc quên không còn minh mẫn, lại nghe theo l i xúi giục của các cô chú khởi kiện để tranh ch p quyền sử dụng đ t là trái pháp luật. Bởi vì gia đình cha mẹ chồng bà sống trên mảnh đ t nêu trên từ n m 1976 cho đ n nay không ai tranh ch p, nên đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t có số phát hành 766038 ngày 27/7/1999, sau đó đ ợc Nhà n c c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào ngày 14/10/2010 cho cha mẹ chồng bà L. Bà L trình bày nội dung nêu trên để Tòa án giải quy t theo luật đ nh.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L trình bày:
N m 1999, ông ê B, bà Huỳnh Th N có đơn xin đ ng ký quyền sử dụng đ t gồm 03 thửa đ t v i diện tích 1.875 m2 (trong đó có 02 thửa đ t nông nghiệp có diện tích 840 m2 và 01 thửa đ t thổ c có diện tích 1.035 m2) đ ợc Hội đồng t v n xã ý Hải xét duyệt, trình Ủy ban nhân dân huyện L xem xét c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ông Lê B, bà Huỳnh Th N và đã đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t có số phát hành 766038, số vào số c p gi y chứng nhận 1184QSDĐ/QĐ-UB ngày 27/7/1999 thửa đ t số 1068, t ban đồ số 2 (bản đồ giải thửa 299), diện tích 1.035 m2.
Đ n n m 2010, trên đ a bàn huyện L thực hiện dự án V A đo đạc, kê khai đ ng ký c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Ngày 29/8/2010, ông ê B ng, bà Huỳnh Th N có Đơn đề ngh c p lại, c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t tại thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 xã A, diện tích 1.502,8 m2 và đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t có số phát hành BD 701608, số vào số CH 00420, c p ngày 14/10/2010.
C n cứ vào quá trình xét duyệt hồ sơ c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào n m 1999 và n m 2010 cho ông ê B, bà Huỳnh Th N. Đây là đ t có nguồn gốc sử dụng ổn đ nh tr c ngày 15/10/1993 không ai tranh ch p. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện L không thống nh t hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t theo yêu c u của cụ D ơng Th N. Đề ngh Tòa án xem xét, giải quy t vụ việc theo đúng quy đ nh của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2020/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2020 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
C n cứ vào khoản 2, khoản 5 và khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 92, khoản 1 Điều 147, các Điều 157, 165, 201, 227, 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 236, khoản 2, khoản 7 Điều 237, Điều 239 Bộ luật dân sự n m 2015; khoản 5 Điều 14 uật đ t đai n m 1987; khoản 3 Điều 26 uật đ t đai n m 1993; khoản 11 Điều 38 uật đ t đai n m 2003; điểm h khoản 1 Điều 64 uật đ t đai n m 2013; Án lệ số 03/2016/A ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; các Điều 12, 26 và Điều 27 Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Th ng vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Không ch p nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn cụ D ơng Th N về việc:
1.1. Yêu c u xác đ nh 1/2 của ph n diện tích 1.296,6 m2 thuộc thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c số 2, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi t ơng ứng diện tích 648,3 m2 là ph n tài sản chung của cụ D ơng Th N trong khối tài sản chung v i cụ ê A. Buộc ông ê B và vợ là bà Huỳnh Th N phải trả lại cho cụ D ơng Th N diện tích đ t 648,3 m2 thuộc một ph n thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
1.2. Yêu c u xác đ nh 1/2 của ph n diện tích 1.296,6 m2 thuộc thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi t ơng ứng diện tích 648,3 m2 là ph n tài sản của chồng cụ N, là cụ ê A trong khối tài sản chung v i cụ N.
1.3. Yêu c u chia thừa k theo pháp luật đối v i diện tích đ t 648,3 m2 thuộc một ph n thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c thôn Đ A, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi là di sản của chồng cụ N (cụ ê An) cho cụ N và các đồng thừa k là các ông, bà Lê B, ê Th T, Lê T, ê Th H, ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L và Lê M. Mỗi kỷ ph n t ơng ứng diện tích 64,83 m2. Cụ N yêu c u nhận ph n di sản đ ợc chia bằng hiện vật. Tổng cộng cụ N đ ợc nhận 713,13 m2.
Cụ N không tranh ch p đối v i tài sản trên đ t. Tr ng hợp trên ph n đ t giao cho cụ N có vật ki n trúc, cây lâu n m của vợ chồng ông ê B, thì cụ N yêu c u vợ chồng ông ê B tự tháo dỡ, di d i để hoàn trả đ t cho cụ N theo quy đ nh của pháp luật.
1.4. Hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số phát hành BD 701608, số vào số c p gi y chứng nhận CH00420 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Quảng Ngãi c p ngày 14/10/2010 cho ông ê B, bà Huỳnh Th N thửa đ t số 194, diện tích 1.502,8 m2, t bản đồ số 26, khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Không ch p nhận yêu c u độc lập của những ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M về việc chia thừa k theo pháp luật đối v i diện tích đ t theo đo đạc thực t là 648,3 m2, thuộc một ph n thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, khu dân c số 2, thôn Đ, xã A (nay là khu dân c thôn Đ A), huyện L, tỉnh Quảng Ngãi là di sản của cha các ông, bà (cụ ê A) cho các đồng thừa k gồm: Cụ D ơng Th N và các ông, bà Lê B, ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M; mỗi kỷ ph n t ơng ứng v i diện tích 64,83 m2. Các ông, bà ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, Lê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M, mỗi ng i đều yêu c u nhận di sản đ ợc chia bằng hiện vật và đều không có tranh ch p đối v i tài sản trên đ t.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quy t đ nh về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và thi hành án theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 09 tháng 6 n m 2020, cụ D ơng Th N và các ông, bà ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M, kháng cáo đối v i Bản án sơ thẩm số 14/2020/DS-ST ngày 26 tháng 5 n m 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Cụ D ơng Th N kháng cáo yêu c u sửa bản án sơ thẩm, ch p nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của cụ D ơng Th N về việc:
- Hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã c p cho ông ê B, bà Huỳnh Th N vào ngày 14/10/2010 tại thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, diện tích 1.502,8 m2.
- Xác đ nh 1/2 thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 xã A t ơng ứng diện tích 648,3 m2 là ph n tài sản chung của cụ D ơng Th N trong khối tài sản chung v i cụ ê A và buộc vợ chồng ông ê B, bà Huỳnh Th N phải trả lại diện tích đ t này cho cụ D ơng Th N.
- Xác đ nh 1/2 thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 xã A t ơng ứng diện tích 648,3 m2 là di sản của chồng cụ D ơng Th N (là cụ ê A) và chia thừa k theo pháp luật đối v i diện tích 648,3 m2 (theo đo đạc thực t ) thuộc một ph n thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 xã A là di sản của chồng cụ N, cho cụ N và các đồng thừa k là ê B, ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M. Mỗi kỷ ph n t ơng ứng v i diện tích 64,83 m2. Cụ N yêu c u nhận ph n di sản bằng hiện vật.
Các ông, bà Lê T, Lê Th M1 ( ê Th H), Lê Th T, Lê Th H, Lê V n C, Lê L, Lê M kháng cáo yêu c u Tòa án c p phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, ch p nhận toàn bộ yêu c u độc lập của các ông, bà ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M về việc:
Xác đ nh 1/2 thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 xã A t ơng ứng diện tích 648,3 m2 là di sản của cha các ông, bà ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), Lê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M (là cụ ê A) và chia thừa k theo pháp luật đối v i diện tích 648,3 m2 (theo đo đạc thực t ) thuộc một ph n thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 xã A là di sản của cha các ông, bà cho các đồng thừa k là ê B, ê Th T, Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M và mẹ của các ông, bà là cụ D ơng Th N. Mỗi kỷ ph n t ơng ứng v i diện tích 64,83 m2. Các ông, bà yêu c u nhận ph n di sản đ ợc chia bằng hiện vật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ng i kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Ông Huỳnh Ngọc A - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày:
Tòa án c p sơ thẩm xác đ nh thửa đ t số 194 của vợ chồng cụ A, cụ N mua vào n m 1974 và n m 1976. Tuy nhiên, Tòa án c p sơ thẩm cho rằng vợ chồng ông B, bà N sở hữu ngay tình hơn 30 n m, đồng th i áp dụng Án lệ số 03/2016/A ngày 06/4/2016 để không ch p nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn là không có c n cứ. Bởi vì:
Sau khi mua đ t mặc dù vợ chồng cụ A, cụ N có làm nhà để cho vợ chồng ông B, bà N ở trên một ph n diện tích đ t khoảng 200m2 nh ng toàn bộ ph n đ t còn lại đều do vợ chồng cụ A, cụ N sử dụng, canh tác cho đ n n m 2001 do đã cao tuổi nên m i không ti p tục sử dụng.
Mặc khác, Bộ luật dân sự của Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày 01/7/1996; từ th i điểm này m i có quy đ nh về sở hữu ngay tình, liên tục, công khai và cho đ n nay là ch a đủ 30 n m. Do đó, không có việc vợ chồng ê B sử dụng ngay tình, liên tục, công khai hơn 30 n m nh nhận đ nh và quy t đ nh của bản án sơ thẩm.
Cụ Lê A ch t n m 2003 n u nh Tòa án c p sơ thẩm cho rằng vợ chồng ông B chi m hữu ngay tình trên 30 n m thì từ n m 1976 đ n n m 2003 cũng m i 27 n m. Tại th i điểm ông ê A qua đ i thì ph n tài sản của cụ Lê A trong khối tài sản chung v i cụ N đã trở thành di sản. Nh vậy, phải áp dụng th i hiệu về chia di sản thừa k để giải quy t chứ không phải áp dụng quy đ nh về sở hữu nh nhận đ nh và quy t đ nh của Tòa án c p sơ thẩm.
Nội dung của Án lệ số 03/2016/A không t ơng tự nh nội dung vụ án mà Tòa án đang giải quy t, bởi lẽ quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa phía b đơn xác đ nh thửa đ t 194 là do phía b đơn mua của bà D ơng Th S. hía b đơn cũng xác đ nh vợ chồng cụ A, cụ N không tặng cho thửa đ t này. Nh vậy, nội dung tranh ch p này khác hoàn toàn so v i nội dung tại Án lệ số 03/2016/AL (là ng i con xác đ nh cha mẹ cho đ t). Mặc khác, cụ N xác đ nh chỉ đồng ý cho vợ chồng ông B diện tích 200m2 và diện tích đ t này ông B đã làm nhà ở kiện cố từ n m 1990 nên chỉ có thể áp dụng án lệ đối v i ph n diện tích đ t 200m2. Do đó, Tòa án c p sơ thẩm áp dụng Án lệ số 03/2016/A để xác đ nh vợ chồng cụ A, cụ N đã cho vợ chồng ông B, bà N toàn bộ thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 xã A diện tích 1.496,6m2 là không có c n cứ pháp luật.
Vì vậy, đề ngh Hội đồng xét xử ch p nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, ch p nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn và yêu c u độc lập của ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:
Vợ chồng ông B, bà N sử dụng thửa đ t số 194 từ n m 1975 đ n nay. N m 1990 vợ chồng ông B, bà N xây nhà kiên cố, n m 1999 đ ợc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Nh vậy, vợ chồng ông B, bà N sử dụng đ t liên tục, công khai, ngay tình trên 30 n m, theo qui đ nh tại Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015, quyền sử dụng đ t của vợ chồng ông B, bà N đ ợc xác lập theo th i hiệu. Mặt khác, sau n m 2001 vợ chồng cụ A, cụ N không sử dụng đ t, theo qui đ nh của uật Đ t đai n m 2013, Nhà n c sẽ thu hồi đ t n u vợ chồng cụ A, cụ N không sử dụng đ t liên tục trong th i gian 12 tháng sẽ b thu hồi. Vì vậy, đề ngh Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà N ng phát biểu:
Gia đình b đơn quản lý, sử dụng thửa đ t số 194 từ n m 1976, đ n n m 1990 xây nhà kiên cố và xây thêm các công trình khác để kinh doanh bán cà phê nh ng nguyên đơn và các ng i con khác không phản đối hoặc tranh ch p. N m 1999, b đơn kê khai và đ ợc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. N m 2000, hộ cụ A, cụ N cũng đ ợc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t tại thửa đ t khác nh ng không khi u nại việc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho b đơn. Nh vậy, b đơn sử dụng ngay tình, liên tục công khai thửa đ t số 194 từ n m 1976 đ n nay nên theo Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015 đ ợc xác lập quyền sử dụng đ t theo th i hiệu. Tòa án c p sơ thẩm áp dụng Án lệ số 03/2016/A là phù hợp.
Vì vậy, đề ngh Hội đồng xét xử không ch p nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Thửa đ t số 194, t bản đồ số 26 có nguồn gốc do cụ A và cụ N nhận chuyển nh ợng từ bà D ơng Th S, bà Đinh Th G, ông D ơng T theo Gi y bán đoạn mãi đ t lập ngày 30/11/1974 và nhận chuyển nh ợng của vợ chồng ông Tr ơng C, bà D ơng Th C theo Gi y bán đ t đoạn mãi lập ngày 08/8/1976, v i tổng diện tích 02 sào, 05 th c (theo đo đạc thực t là 1.496,6 m2), phù hợp v i l i khai xác nhận của ông D ơng T, ông D ơng Đình Bảo.
Về quá trình quản lý, sử dụng đ t: Cụ N và các con đều thừa nhận vợ chồng ông B, bà N đã ở trên thửa đ t số 194 từ n m 1976 đ n nay, vào n m 1990 vợ chồng ông B đã xây dựng nhà kiên cố. Cụ N khai rằng vợ chồng cụ chỉ cho vợ chồng ông B 200 m2 đ t thuộc một ph n thửa đ t số 194 để xây nhà ở, ph n diện tích đ t còn lại không cho, nh ng cụ N không có tài liệu, chứng cứ chứng minh chỉ cho 200m2.
N m 1999, vợ chồng ông B đ ng ký kê khai và đ ợc Ủy ban nhân dân huyện L c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 766038, ngày 27/7/1999 cho hộ ông Lê B đối v i thửa đ t số 1086, t bản đồ số 2, diện tích 1.035 m2 bi n động thành thửa đ t số 194, t bản đồ số 26, diện tích đo đạc thực t là 1.496,6 m2. Mặt khác, Ủy ban nhân dân huyện L cũng đã c p cho hộ cụ Lê A Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số R 637825 ngày 04/7/2000 đối v i thửa đ t số 183, t bản đồ số 3, xã ý Hải. Nh vậy, vào th i điểm tháng 7/2000, cụ A và cụ N đã bi t việc Ủy ban nhân dân huyện L có chủ tr ơng c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho các hộ dân nh ng cụ A và cụ N không kê khai đối v i thửa đ t số 1086 (nay đã bi n động thành thửa đ t số 194) nêu trên. Cụ N và những ng i con khác đều không có ý ki n tranh ch p, khi u nại việc hộ ông Bằng kê khai đ t và đ ợc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t hoặc phản đối việc ông Bằng xây dựng nhà kiên cố trên thửa đ t.
Tòa án c p sơ thẩm áp dụng Án lệ số 03/2016/A ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nội dung:“Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất” trong tr ng hợp này là phù hợp v i các tình ti t nêu trên. Do đó, Tòa án c p sơ thẩm xác đ nh vợ chồng ông B, bà N đ ợc quyền sử dụng thửa đ t số 194 là có c n cứ, đúng pháp luật.
Về nội dung kháng cáo cho rằng Án lệ số 03/2016/A không t ơng tự nội dung vụ án đang giải quy t, thì th y: i khai của b đơn về nguồn gốc đ t do b đơn mua là không có c n cứ, không phù hợp v i nội dung trình bày của ông B tr c đây tại Đơn xin xác nhận đề ngày 21/7/1999 khi lập hồ sơ đ ng ký c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t: “N trư c đây cha mẹ đã thừa kế cho tôi một thửa đất thổ cư nhà v i diện tích 1035m2”. Thực t , vợ chồng ông B, bà N quản lý sử dụng thửa đ t số 194 từ n m 1976 đ n nay, đã xây dựng nhà ở kiên cố, vợ chồng cụ N và những ng i con khác không phản đối, hộ gia đình ông Bằng đã đ ợc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Trong tr ng hợp này, Tòa án c p sơ thẩm xác đ nh thửa đ t có nguồn gốc vợ chồng cụ N mua và đã cho vợ chồng ông B, bà N sử dụng là có cơ sở. Cụ N thừa nhận có cho đ t nh ng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh chỉ cho 200m2. Do đó, Tòa án c p sơ thẩm xác đ nh vụ án có các tình ti t t ơng tự và áp dụng Án lệ số 03/2016/A để giải quy t là có c n cứ.
Về v n đề xác lập quyền sở hữu theo th i hiệu, theo qui đ nh tại Điều 236 Bộ luật Dân sự n m 2015, th i gian 30 n m tính từ th i điểm bắt đ u chi m hữu b t động sản. Nội dung kháng cáo cho rằng không có việc vợ chồng ông B, bà N sử dụng ngay tình, liên tục, công khai hơn 30 n m là không đúng v i thực t sử dụng đ t của vợ chồng ông B, bà N. Theo Án lệ số 03/2016/AL, vợ chồng ông B, bà N đã đ ợc tặng cho quyền sử dụng đ t nên thửa đ t không còn là di sản để chia thừa k .
Do xác đ nh vợ chồng ông B, bà N có quyền sử dụng đ t đối v i thửa đ t số 194 nên Tòa án c p sơ thẩm không ch p nhận yêu c u hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã c p cho hộ ông Bằng là có c n cứ, đúng pháp luật.
Vì vậy, không có c n cứ ch p nhận kháng cáo của nguyên đơn và những ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; c n giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ng i có kháng cáo không đ ợc ch p nhận phải ch u án phí dân sự phúc thẩm, cụ N và bà T là ng i cao tuổi nên đ ợc mi n.
Về án phí dân sự sơ thẩm, theo qui đ nh tại điểm a khoản 7 Điều 27 Ngh quy t số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: “Trường hợp Tòa án xác định tài sản chung, di sản thừa kế mà đương sự yêu cầu chia không phải là tài sản của họ thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch”. Tòa án c p sơ thẩm tính án phí có giá ngạch đối v i các đ ơng sự là không đúng, trong tr ng hợp này các ông bà Lê T, ê Th M1 (Lê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M chỉ phải ch u án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ. Tòa án c p phúc thẩm xác đ nh lại án phí dân sự sơ thẩm theo qui đ nh trên.
Vì các l trên;
QU T ĐỊNH
C n cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không ch p nhận kháng cáo của nguyên đơn cụ D ơng Th N và kháng cáo ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông bà Lê T, ê Th M1 ( ê Th H), ê Th T, ê Th H, ê V n C, Lê L, Lê M;
1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 14/2020/DS-ST ngày 26 tháng 5 n m 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (trừ ph n án phí dân sự sơ thẩm).
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Cụ D ơng Th N đ ợc mi n tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà ê Th T đ ợc mi n tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà ê Th T 1.625.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số AA/2018/0002108 ngày 07/5/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
Các ông, bà ê V n C, ê Th H, Lê L, ê Th M1 ( ê Th H), Lê M, Lê T, ê Th T mỗi ng i phải ch u 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; kh u trừ vào 1.625.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp l n l ợt t ơng ứng
tại
các
Biên
lai
thu
số AA/2018/0002102, AA/2018/0002103, AA/2018/0002104, AA/2018/0002105 AA/2018/0002106, AA/2018/0002107, AA/2018/0002109 cùng ngày 07/5/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi; Các ông, bà ê V n C, Lê Th H, Lê L, ê Th M1 ( ê Th H), Lê M, Lê T, ê Th T; mỗi ng i đ ợc hoàn trả 1.325.000 đồng.
3. Án phí dân sự phúc thẩm
a. Cụ D ơng Th N và bà ê Th T đ ợc mi n tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả cụ D ơng Th N và bà ê Th T, mỗi ng i 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại các Biên lai thu số AA/2018/0004842, AA/2018/0004843 cùng ngày 30/6/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
b. Các ông, bà ê V n C, ê Th H, Lê L, Lê Th M1 ( ê Th H), Lê M, Lê T, ê Th T mỗi ng i phải ch u 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, đã nộp tại các Biên lai thu số AA/2018/4844, AA/2018/4845, AA/2018/4846, AA/2018/4847, AA/2018/4848, AA/2018/4849, AA/2018/4850 cùng ngày 30/6/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND c p cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi; - Những ng i tham gia tố tụng; - u HSVA, HCT , T. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Tự |