vanban.org

Bản án 05/2019/HSST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Trương Ánh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Trương Ánh Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2018. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Trương Ánh Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Trương Ánh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2019/HSST
Ngày 15 - 02 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị A.

Ông Trần Phú Nhuận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Nam Bắc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Thị Trương Ánh Đ; sinh năm: 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường P, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: không có nơi ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H (chết) và bà: Trương Thị Ánh H; có chồng: Dương Minh H (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2016, đang mang thai 15 tuần; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị bắt giữ ngày: 04/12/2018, tạm giữ ngày: 04/12/2018, bị tạm giam ngày: 06/12/2018.

(Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 ngày 04/12/2018, tại khu vực hẻm 405 đường Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lực lượng tuần tra Công an Quận 10 tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Thế V đang điều khiển xe mô tô biển số 54V8-9866 chở Phạm Thị Trương Ánh Đ và thu giữ từ Đ: 01 gói nylon (bên trong chứa tinh thể rắn không màu) để trong túi áo khoác màu đen đang mặc, 01 gói nylon (bên trong chứa tinh thể rắn không màu) và 01 chiếc cân điện tử [để trong 01 hộp vuông bọc vải màu đỏ để trong ba lô màu đen đeo trên người], 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia. Vụ việc được Công an Phường 12, Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.

Tại Bản Kết luận giám định số 141/KLGĐ-H ngày 12/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Phạm Thị Trương Ánh Đ và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thế V (người chứng kiến), Vũ Quang Chung (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10 có khối lượng 4,4141g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

- Gói 2: Tinh thể không màu trong 03 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Phạm Thị Trương Ánh Đ và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thế V (người chứng kiến), Vũ Quang Chung (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10 có khối lượng 2,5350g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Đ khai nhận như sau: số ma túy trên là do Đ mua của một đối tượng tên T (không rõ lai lịch) với giá 2.600.000 đồng tại đường Nguyễn Văn Luông Quận 6, sau đó phân nhỏ để bán lại cho người khác để kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bắt giữ như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố điều tra đối với Phạm Thị Trương Ánh Đ về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Riêng đối tượng tên T (hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào bắt được xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thế V, quá trình điều tra xác định không biết hành vi mua bán ma túy của Đ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 không xử lý, đồng thời đã xử lý tài sản liên quan đến V.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 18 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố Phạm Thị Trương Ánh Đ: về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo Phạm Thị Trương Ánh Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là phụ nữ có thai); đã đề nghị áp dụng điểm i khoản 2, 5 Điều 251; điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Thị Trương Ánh Đ: từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo: không có gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: bị cáo Phạm Thị Trương Ánh Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, cụ thể: bị cáo đã cất giữ trái phép: 4,4141g + 2,5350g = 6,9491g loại Methamphetamine, nhằm mục đích để bán lại cho người khác, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy ở thể rắn, nên bị cáo bị truy tố và xét xử theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là phụ nữ mang thai; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với trường hợp của bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Đối với: 01 gói vật chứng đã được niêm phong (bên trong có chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra), 01 gói vật chứng đã được niêm phong (bên trong có chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra), là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc cân điện tử, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen (số Imel: 358989096600525, số thuê bao 0366285182), 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng (số Imel: 359706061391149/72, số thuê bao 0774259267); là phương tiện dùng vào việc mua bán trái phép chất ma túy; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với: 01 áo khoác màu đen, 01 túi xách màu đen, 01 hộp vuông bọc vải màu đỏ, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp; không đáng giá trị; vậy căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Trương Ánh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Thị Trương Ánh Đ;

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Trương Ánh Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2018.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.

- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy: 01 gói vật chứng đã được niêm phong (bên trong có chưa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra), 01 gói vật chứng đã được niêm phong (bên trong có chưa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra).

- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc cân điện tử, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen (số Imel: 358989096600525, số thuê bao 0366285182), 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng (số Imel: 359706061391149/72, số thuê bao 0774259267).

- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hùy: 01 áo khoác màu đen, 01 túi xách màu đen, 01 hộp vuông bọc vải màu đỏ, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/01/2019 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc: Bị cáo Đ chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án./.

Nôi nhaän:

Cỡ chữ